Lăng Minh Mệnh (còn gọi là Hiếu lăng) tọa lạc trên ngọn núi Cẩm Kê, nơi hợp lưu giữa hai dòng Tả trạch và Hữu trạch tạo thành Sông Hương thơ mộng. Để tìm được đất tốt này, vua Minh Mệnh đã mất mười bốn năm cho tìm kiếm, cân nhắc, lựa chọn. Vua từng dụ rằng: “các thánh đế minh vương đời xưa muốn cầu nhiều phúc đều có dự định đất tốt vạn niên để mong trời cho cơ đồ dài lâu”[i]. Sau đó, nhà vua sai văn võ Đình thần, Khâm thiên giám và quan địa lý đi tìm nơi cát địa để dựng sơn lăng. Đại Nam thực lục chép: “hạ lệnh cho Đình thần cùng với Khâm thiên giám đi đến miền núi thuộc các xã Kim Ngọc, Định Môn, lựa trước ngôi “Vạn niên đại cát địa” và ngôi “Vạn niên cát địa”, cho được gần chốn khí thiêng mà để lại phúc ấm về sau. Các khanh đều nên hết lòng nhận kỹ, cốt cho thoả hợp, rồi vẽ địa đồ dâng trình, đợi trẫm thân đến lựa chọn”[ii].
Công cuộc tìm đất làm kế nghìn vạn năm, để lại phúc ấm về sau, được bắt đầu từ tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 7 (1826). Bởi ý nghĩa lớn lao của việc lựa chọn đất tốt nên đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận giữa các quan văn võ Đình thần và Khâm thiên giám. Các quan Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá khen đất xứ Gia Phúc, xã Định Môn là nơi cát đại. Trong khi đó, Khâm thiên giám cho rằng ngôi đất ở xứ Gia Phúc “không có chỗ nước tụ, minh đường chật hẹp, nước sông chảy lệch”[iii]. Đồng thời, Khâm thiên giám khen cuộc đất xứ Nhự Mai phường An Bình do Lê Công Tường tìm được là cát địa. Song, các quan Nguyễn Văn Bảng, Nguyễn Huy Tá gay gắt phản đối vì cho rằng “không thấy chỗ mạch khí dồn thắt”. Quan điểm này được nhiều đại thần như Tống Phước Lương, Trần Lợi Trinh, Hoàng Kim Xán ủng hộ.
Vua Minh Mệnh tiếp tục sai Kiến An công, Định Viễn công đi tìm. Sau lại sai các đại thần Trần Văn Năng, Lương Tiến Tường đi kiểm tra lại thì đều khẳng định xứ Kiều Long xã Kim Ngọc là nơi vạn niên cát địa[iv]. Về việc này, Đại Nam thực lục chép: “Vua lại sai Kiến An công Đài, Định Viễn công Bính cùng với bọn đại thần là Trần Văn Năng, Phan Văn Thuý và Lương Tiến Tường, đi phúc duyệt lần nữa. Khi về họ đều nói: “Trải xem các kiểu đất chỉ có xứ Lẫm Sơn đáng là ngôi “Vạn niên đại cát địa” và xứ Kiều Long đáng là ngôi “Vạn niên cát địa”, ý kiến đều giống nhau.”[v] Lúc đó, vua Minh Mệnh đã nhiều phần ưng thuận. Tuy nhiên, sau 14 năm cân nhắc, vua Minh Mệnh đã nghe theo quan địa lý Lê Văn Đức chọn núi Cẩm Kê thuộc xã An Bằng để dựng lăng phần.
Trang đầu bản phúc của Trương Đăng Quế, Hà Duy Phiên về việc chọn được nơi vạn niên cát địa ở xứ Kiều Long xã Kim Ngọc. Nguồn: TTLTQGI
Theo Đại Nam thực lục, khi vua Minh Mệnh đến xem đất bảo rằng: “Núi này phong thuỷ rất tốt từ trước chưa ai xem ra. Nay mới xem được chỗ đất tốt ấy, thực đáng vui mừng”[vi] và đổi tên núi thành Hiếu sơn. Nhà vua sai các quan Bùi Công Huyên, Trương Đăng Quế và Vệ Giám thành đo khám địa cục núi đó để vẽ địa đồ dâng lên ngự lãm.
Tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) bắt đầu dựng lăng ở Hiếu sơn “phát ra binh dân 3000 người đến khởi công làm. Sai Hiệp biện Đại học sĩ là Trương Đăng Quế, Hộ bộ Thượng thư là Hà Duy Phiên đứng trông nom công việc”[vii]. Tuy nhiên, khi công trình đang đào hồ, đắp la thành thì vua Minh Mệnh băng hà.
Sau khi lên ngôi, vua Thiệu Trị theo đúng họa đồ kiến thiết sơn lăng của vua cha tiếp tục cho xây dựng. Theo lời Khâm thiên giám, vua Thiệu Trị chọn ngày hiệp cát là ngày mồng một tháng 2 năm 1841 khởi công làm[viii].
Để sơn lăng nhanh chóng hoàn thành kịp làm lễ Ninh lăng, vua Thiệu Trị giao cho hai bộ Binh, Công điều phái gần 10.000 binh lính và thợ thuyền đến công trình Hiếu sơn làm việc. Sau đó, ngày 04 tháng 2 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) đã “phái thêm 2 Quản vệ, 40 Suất đội, 2000 binh lính”[ix]. Đến ngày 12 tháng 2, Nội các lại phụng dụ “Truyền cho Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên làm Đổng lý đại thần; lại phái Thự chưởng vệ Lãnh Sự vụ Thượng tứ viện Tôn Thất Đường hiệp đồng với Trần Hữu Lễ, Nguyễn Văn Chương làm Phó Đổng lý đại thần”[x] để lo liệu công việc cho chu toàn.
Chỉ sau mấy tháng, các công trình chính của Hiếu lăng đã cơ bản hoàn thành. Bản phụng dụ ngày 19 tháng 6 năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) của Nội các cho biết “Kỳ lễ Ninh lăng đã tới gần mà công trình xây dựng Hiếu lăng cũng đã tạm xong”.[xi]
Công trình Hiếu lăng là sự kết hợp hài hòa giữa bàn tay, trí tuệ con người và thiên nhiên để kiến tạo một sơn lăng tuyệt mỹ. Vua Thiệu Trị khi cho xây dựng lăng phần nói: “cuộc đất Hiếu sơn, núi chầu lại, nước chảy quanh, tả hữu bao bọc, khí vượng mạch tốt là nơi thiên nhiên toàn mỹ. Phụng Hoàng khảo ta lúc còn tại vị đã từng lệnh cho quan xem xét mới chọn làm cát địa vạn niên. Trẫm nối theo chí của tiên đế, đặc phái đại thần đến phụ trách việc xây dựng, dựa theo hình thế của núi mà xây dựng điện, lầu, viện, các, đình, tạ. Tất cả đều là tuân theo huấn thị trước kia của Hoàng khảo. Nay đặt tên lăng là Hiếu lăng, trên xây bảo thành, dưới xây địa cung”[xii].

Trang đầu bản phụng thượng dụ của Nội các về việc xây dựng Hiếu lăng ở Hiếu sơn.
Nguồn: TTLTQGI
Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Hiếu lăng xây dựng xong. Lăng được giới hạn bởi vòng la thành dài 1750m, diện tích 18 héc-ta và vùng cấm địa quanh lăng rộng 475 héc-ta. Tổng thể lăng có khoảng 40 công trình lớn nhỏ, bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường thần đạo dài 700m.
[i] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.521.
[ii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.522.
[iii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.522.
[iv]Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh tập 68, tờ 36.
[v] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 2, tr.523.
[vi] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 5, tr.693.
[vii] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H.2004, tập 5, tr.794.
[viii] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 2, tờ 115.
[ix] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 7, tờ 9.
[x] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 7, tờ 28.
[xi] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 8, tờ 239.
Nguyễn Hường