Cuối triều Nguyễn, nền giáo dục Việt Nam có nhiều thay đổi. Nhiều trường được thành lập mới ở Kinh đô Huế như: trường Quốc học Huế (1896), trường Kỹ nghệ Thực hành (1899), trường Nữ sinh Đồng Khánh (1917) v.v. Bên cạnh đó, triều Nguyễn lập trường Tôn học vào năm Thành Thái thứ 16 (1904) là nơi học tập cho các tôn tước, công tử, công tôn và con trai trong Tôn thất.
Theo Đại Nam thực lục năm 1904, vua Thành Thái cho đặt trường Tôn học. Vua dụ: “Văn học Thái Tây dịch ra chữ quốc ngữ nước ta rất là cần thiết, Trẫm đã tham khảo châm chước quyết định, lại dặn dò sai bảo các tôn tước cùng công tử, công tôn đều nên học tập để chờ ngày hữu dụng, tới như những người tuổi trẻ thông minh dĩnh ngộ cũng cho vào học”[1]. Sau khi thành lập, vua chọn Tuyên Hóa quận công Bảo Tán kiêm quản trường Tôn học, lại sai nghĩ định quy chế và chương trình học. Trường đặt hai trợ giáo, năm giáo học, mười thừa biện và lấy sảnh đường cũ của Cơ mật viện làm giảng đường. Hàng tháng, trường được cấp 300 đồng trích từ Đại Nội làm chi phí và chế cấp cho một bộ ấn kiềm để làm việc.
Sau khi đặt trường Tôn học, các tôn tước, công tử, công tôn và con trai trong Tôn thất còn ít tuổi đều phải đến trường học tập. Trường đặt các quy chế và chương trình học rõ ràng. Thông qua bản tấu của Kiêm quản trường Tôn học Bảo Tán ngày 22 tháng 9 năm Thành Thái thứ 18 (1906), chúng ta có thể hiểu hơn về quy định và chương trình học của trường. Nội dung bản tấu viết: “Nay kính vâng châu phê: Học trò của trường chăm chỉ, lười biếng ra sao kê tên, ghi chú rõ ràng. Có đến học tập hay không, hàng ngày ghi dưới tên đầy đủ để xem. Đồng thời, từ sau mỗi tuần phúc trình một lần. Khâm thử! Lại vâng sắc: Học sinh bỏ học truyền cho nghĩ định xử phạt. Khâm thử! Dựa theo các khoản, thần tuân theo phụng xét, phương pháp giảng dạy tại trường chuyên dạy ngự chế, chữ quốc ngữ, phiên dịch, các sách sử ký, đồ toán của bản quốc và nước ngoài. Từ đó đến nay có chút tiến bộ. Chỉ có điều, học sinh trong đó có những người cao tuổi, sức khỏe yếu, học tập không tiến bộ. Đối với người 30 tuổi trở lên đã thông hiểu chữ quốc ngữ xin cho đều tự tuỳ ý học tập. Còn các tôn tước, công tử, công tôn và con trai tôn thất các hệ ít tuổi, xin đều do quan Phủ Tôn nhân chuyển sức, trừ người nào có lý do, ngoài ra đều tới trường không được trốn tránh. Lại nữa, hiện tại có con cháu các công thần và con em các quan viên tại kinh có nhiều người xin vào trường học tập. Kính xin tất cả đều ân chuẩn cho thỏa sự chờ mong của bọn đó”[2].
Bản tấu này cho biết trường Tôn học không chỉ dành cho các tôn tước, công tử, công tôn và con trai thuộc Tôn thất ít tuổi mà còn cho con cháu công thần, con em quan viên làm việc ở kinh vào học. Về nội dung giảng dạy, trường chủ yếu dạy ngự chế, chữ quốc ngữ, phiên dịch và sách sử kí, đồ toán. Mỗi tuần trường đều có đánh giá, khảo sát để phân thứ hạng. Ngoài ra, trường cũng đặt quy định và lệ xử phạt đối với học sinh nghỉ học. Theo đó, mỗi tháng, học sinh không được nghỉ học quá năm ngày. Nếu nghỉ học không phép quá ba ngày, người có bổng sẽ phạt nửa tháng bổng, người không có bổng thì đánh 20 roi. Nếu nghỉ học không phép quá năm ngày, người có bổng thì phạt một tháng bổng, người không có bổng đánh 30 roi.
Đồng thời, bản tấu cho biết thêm rằng vào năm Thành Thái thứ 18 (1906), trường Tôn học có bốn phòng học, mỗi phòng có khoảng 16 - 17 học sinh. Như vậy, thời điểm đó trường có khoảng gần 70 học sinh.
Giảng đường trường Tôn học vốn là sảnh đường cũ của Viện Cơ mật nên sau một thời gian đã bị xuống cấp. Châu bản triều Nguyễn cho biết đầu năm Thành Thái thứ 18 (1906), các giảng đường và nhà ở bị hư hại, cần sửa chữa. Bản tấu của Bộ Công ngày 30 tháng 3 năm Thành Thái thứ 18 (1906) viết: “Các giảng đường, nhà ở của trường đó gỗ lạt, vật liệu phần nhiều hư hại. Trong đó có nóc trước giảng đường chính và hai nhà tả, hữu ở phía sau cần tiến hành tu bổ lại như cũ. Còn học đường phía trước to rộng hư hại nhiều cùng hai nhà tả, hữu phía trước xin đều cho tháo dỡ xuống, chọn lấy gỗ lạt, vật liệu dựng lại hai dãy tả, hữu, mỗi dãy sáu gian, chia làm ba phòng. Về quy thức chiếu theo như trường Quốc học để làm khiến cho thuận tiện giảng dạy, học tập. Bộ thần xét các lẽ tư văn trình bày cũng là linh hoạt nghĩ liệu thực hiện. Chỉ có điều trường đó hiện đang giảng dạy, học tập, nếu nay tiến hành tu bổ, xây dựng một lượt e rằng có điều chưa tiện. Vì vậy, xin trước hết đối với giảng đường chính và hai nhà tả, hữu ở phía sau cùng nhà bếp nào hễ vật liệu hư hại bao nhiêu sức cho dự trù, họp bàn tu sửa để kịp giảng dạy, học tập. Còn các khoản giảng đường phía trước và nhà tả, hữu tháo dỡ đổi dựng phòng ở xin sẽ tiếp tục dự trù thực hiện”[3].
Bản tấu của Bộ Công ngày 30 tháng 3 năm Thành Thái thứ 18 (1906)
về việc tu sửa trường Tôn học.
Nguồn: TTLTQGI.
Đến ngày 18 tháng 6 năm Thành Thái thứ 18 (1906), Bộ Công tiếp tục dâng tấu xin tu sửa nóc trước giảng đường chính, hai nhà tả, hữu phía sau và nhà bếp của trường Tôn học. Bộ kiểm tra, dự trù vật liệu, phu thợ và kinh phí, tổng cộng hết 407 đồng 1 hào 8 xu. Số kinh phí sửa chữa này Bộ Công xin lấy từ ngân sách xây dựng trong năm để tu bổ. Đề nghị của Bộ Công được vua Thành Thái đồng ý cho thực hiện thông qua châu điểm trên bản tấu[4].
Trường Tôn học lập năm Thành Thái thứ 16 (1904) nhưng đến đầu thời Duy Tân đã không còn giữ được vai trò của mình. Vì vậy, sau khi Bộ Học thành lập thì nơi đây trở thành công đường của Bộ Học. Trong bản tấu của Bộ Công ngày 14 tháng 11 năm Duy Tân thứ nhất (1907) viết rõ: “Nay nhận được tư văn của Phủ Phụ chính trình bày rằng: Kỳ hội bàn ngày 11 tháng trước quý Khâm sứ đại thần bàn rằng trường Tôn học ngày nay đã không còn cần thiết. Vì vậy, trường đó đặt làm [công đường] Bộ Học, xin do bộ thần kiểm tra, dự trù tu bổ. Bộ thần đã sai kiểm khám các khoản nóc trước chính đường, nhà trước, nhà bếp và tường gạch, cánh cửa nên tiến hành tu bổ, chế biện. Khoản nào bao nhiêu ghi chép đầy đủ vào sổ, sức dự trù nhu phí, vật hạng cũ và thuê phu thợ, mua vật liệu, tổng cộng số bạc là 191 đồng 5 tiên”[5].
Khi lập trường Tôn học, vua Thành Thái mong muốn các tôn tước, công tử, công tôn, con trai trong Tôn thất và con cháu công thần đều học tập để trở thành người hữu dụng. Điều đó thể hiện sự quan tâm của vua Thành Thái đối với việc giáo dục trong hoàng tộc và đào tạo nhân tài.
[1] Đại Nam thực lục, đệ thất kỷ phụ biên, quyển 16. Bản dịch của NNC Cao Tự Thanh.
[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 66, tờ 16.
[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 59, tờ 153.
[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 62, tờ 54.
[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Duy Tân tập 3, tờ 190.
Nguyễn Hường