Kì II. Các loại trà được sử dụng trong cung đình triều Nguyễn
Viện Thượng trà
Sách Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ ghi chép cụ thể về Viện Thượng trà, rằng:
Gia Long năm thứ nhất (1802), đặt ra đội Thị trà với 450 người, dồn làm 9 đội, từ đội Nhất đến đội Cửu. Đến năm thứ 12 (1813) đổi các đội Thị trà làm vệ Thị trà.
Minh Mạng năm thứ 4 (1824) gộp hai đội Thị trà Nhất, Nhị làm Viện Thượng trà với số binh đến 90 người. Năm thứ 11 (1830) nghị chuẩn: Viện Thượng trà vốn đặt 90 người, nhiều lần khuyết ngạch, hiện còn 52 người, việc hầu trực không đủ, nên nay mộ thêm 48 người nữa để đủ số 100 người (sau đổi làm 60 người).
Thiệu Trị năm thứ 2 (1842) có Chỉ: Viện Thượng trà vốn đặt 60 người nên sai phái không đủ. Nay chuẩn định ngạch là 80 người.
Tự Đức năm thứ 2 (1849) tâu được chuẩn: Viện Thượng trà nguyên đặt 80 người, nhiều lần thăng bổ, đổi đi, trốn và chết, hiện còn 69. Cần trích ra 10 binh đinh ở các đội Kỳ vũ bổ vào viện ấy, cho đủ người sai phái. Về sau thiếu bao nhiêu, Quản viện ấy chiêu mộ sung bổ vào.
Chức sự Viện Thượng trà: Phàm vật gì đáng dâng lên Vua dùng thì phải kính cẩn sửa biện. Gặp các ngày tự, hưởng, khánh hạ, triều hội, khi Vua ngự trên điện và khi ngự giá đi chơi thì một viên sứ hay Phó sứ theo hầu hộ vệ hai bên tả hữu. Còn biền binh thì đều chỉnh tề trang phục, vâng dâng các vật hạng của Vua dùng theo xa giá. Ngày thường, theo lệ chia phái biền binh đứng hầu ở hai bên tả, hữu vu trước cung Từ Thọ và nhà Duyệt thị đường để phòng có sai khiến việc gì.
Phàm khi có các lễ tự, hưởng mà Vua đích thân làm lễ thì buổi chiều ngày hôm trước đến lĩnh rượu và khay, chén ở kho Thượng phương; kính cẩn xem xét, niêm ghi, dâng đến nơi tế giao cho người chuyên trách nơi ấy coi giữ để chuẩn bị làm thứ rượu khi ẩm phúc.
Phàm khi Vua cho hưởng, phải kính lĩnh thứ trà công để vâng hưởng khoản đãi. Đến như ngày thường, lệ đãi nước trà thì lĩnh thứ trà công, để khoản đãi các hoàng tử và văn võ bách quan hiện hầu trực ở đấy. Ngày đình nghị đều chiếu ngày khoản đãi nước trà như lệ.
Châu bản triều Thành Thái cũng cho biết, Viện Thượng trà và đội Thượng thiện chuẩn bị cơm cỗ và các hạng trà chu đáo trong đại lễ tế Nam Giao “Chúng thần Thị vệ xứ tâu: Phụng xét ngày 17 tháng 2 năm Thành Thái thứ 3 có đại lễ tế Nam Giao. Ngày 16, Hoàng thượng ngự giá đến dừng tại trai cung. Vâng được chỉ phê chuẩn chi quan tiền cho Thị vệ xứ, sức đội Thượng Thiện làm cơm cỗ và Viện Thượng Trà chuẩn bị các hạng trà nam. Hai buổi trưa, chiều ngày hôm đó đem tới hai nhà tả, hữu tôn cung để chờ ban cấp cho các người theo hầu là các Hoàng thân, chính khanh của phủ Tôn nhân, phủ Phụ chính, các đường quan, giảng quan của Nội các, các đường quan, thuộc viên của Thị vệ, các Thái giám, cung giám dùng. Ngày 24 tháng này có lễ đó. Vì vậy ngày 23 xin theo như lệ đó thực hiện. Số tiền chi hết bao nhiêu, sẽ theo thực tế để thanh toán”[1].
Như vậy, Viện Thượng trà chuyên trách việc dâng đồ uống cho Vua và Hoàng Thái hậu dùng hàng ngày; cung ứng nước trà cho các đình thần uống trong các buổi triều hội; chuẩn bị trà, rượu vào những lễ kỵ và tế tự tại các đàn miếu; mang theo đồ uống khi Vua Ngự giá đi tuần du ở các địa phương.
Các loại trà được sử dụng trong cung đình triều Nguyễn
Trà Long Tỉnh
Trà Long Tỉnh còn được gọi là Ngự trà, Hoàng trà, đứng đầu trong Thập đại danh trà tàu. Trà Long Tỉnh thường được gắn với câu chuyện rất thú vị:
Hoàng Đế Càn Long đời nhà Thanh dạo chơi tới Giang Nam. Khi dừng chân tại Tây Hồ, được thưởng thức trà Long Tỉnh và chứng kiến kĩ nghệ tuyệt vời của những cô thôn nữ hái chè nơi đây, Ngài đã tham gia học cách hái chè. Đúng lúc đó, nhận được tin Thái hậu bị bệnh nặng, Càn Long vội vàng trở về, trong túi áo còn nguyên những búp trà vừa hái. Khi Càn Long về, bệnh tình của Thái hậu thuyên giảm đi một nửa. Bà ngửi thấy một mùi hương phảng phất dịu nhẹ, liền hỏi là mùi hương gì? Càn Long sực nhớ ra búp trà trong túi, vội lấy ra pha, mùi vị của trà tỏa lên thơm mát. Nếm thử ngụm trà vừa pha, bệnh tình của Hoàng Thái hậu hoàn toàn hồi phục, sức khỏe trở lại như xưa. Vua Càn Long vui mừng, liền ban sắc lệnh, phong cho 18 cây trà trước Long Tỉnh Tự ở Tây Hồ là “Ngự trà”. Về sau, vua Khang Hy phong là “Hoàng trà”, loại trà biểu trưng cho Hoàng đế. Cũng vì búp trà được để trong túi nên đã ép dẹp, tạo thành hai mặt phẳng, vì thế mà trà Long Tỉnh Tây Hồ cũng được người dân nơi đây chế biến và tạo thành hình tương tự.
Châu bản triều Nguyễn cũng ghi chép về việc triều Minh Mệnh lệnh cho tỉnh Hà Nội tìm mua trà Long Tỉnh để sử dụng. Theo bản Tấu của Bộ Hộ ngày mồng 6 tháng 12 năm Minh Mệnh 18 (1837) báo giá các loại trà, trong đó có trà Long Tỉnh “trà Long Tỉnh mỗi cân giá 2 lạng bạc 8 tiền; trà Hy Xuân, Châu Lan mỗi cân giá 3 lạng bạc. Vậy có chiểu theo giá đó để cấp phát hay không, tư xin Bộ thẩm xét... Nay mua các loại trà ở tỉnh đó cũng là hàng tiêu dùng. Căn cứ giá trong tư văn so với kỳ trước thì như nhau nhưng so với giá kỳ năm ngoái hơi cao, có nên xét theo giá của tỉnh để cấp phát hay không. Bộ thần chưa dám sơ suất sắp đặt. Trình bày chỉ để tuân làm.”[2]
Oolong Trà (Trà Ô Long)
Oolong Trà (còn được gọi trà Ô Long) là một loại trà có xuất xứ từ vùng núi tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Tên trà Ô Long gắn với nhiều truyền thuyết dân gian.
Truyền thuyết thứ nhất cho rằng, do một người trồng trà thấy có con rồng đen từ cây trà này bay lên, nên từ đó đặt thành tên. Truyền thuyết thứ hai kể rằng, trà Ô Long ban đầu được người Trung Quốc gọi là wulong hay rồng đen, bởi trong quá trình chế biến, lá trà đen được xoắn lại thành hình dạng giống như con rồng.
Truyền thuyết thứ ba kể về một người trồng trà tên là Wu Liang (sau này được gọi lại Wulong), ở huyện An Khê, tỉnh Phúc Kiến với biệt danh là Ô Long (vì anh ta có làn da đen). Trong lúc đang thu hái trà, bỗng phát hiện thấy một con nai, anh ta bèn bỏ dở công việc để săn nai. Hôm sau, sực nhớ ra chưa chế biến trà đã thu hoạch của ngày hôm trước, anh ta vội vàng kiểm tra. Thật bất ngờ, mặc dù những lá trà đã bị oxy hóa một phần dưới ánh mặt trời nhưng lại tỏa ra mùi hương kỳ lạ. Tò mò, anh ta liền lấy ra pha thử một ấm. Kết quả, trà sau khi pha có hương vị hoàn toàn khác biệt, ngọt ngào mạnh mẽ, không giống như trà được sản xuất trước đây. Anh ta quyết định thay đổi cách chế biến trà bằng cách làm héo, để trà lên men tự nhiên. Từ đó, tên của loại trà này được đặt theo biệt danh của anh ta là trà Ô Long.
Triều Thành Thái, trà Ô Long được sử dụng hàng ngày và tiếp đãi khách quý. Bản Phúc trình của Thị vệ xứ ngày 11 tháng 8 năm Thành Thái 6 (1894) “Nay nhận được tư văn của bộ Hộ trình: Nhận được 10 cân trà xanh và 10 cân trà Ô Long do 2 tỉnh Hà Nội, Hải Dương theo lệ chọn mua đệ nạp, nay đã giao đến nơi. Chúng thần sức kiểm tra thấy niêm phong còn tốt. Số trà đó xin do Thị vệ xứ thần tôn kính cất giữ chờ trích cung tiến và khoản đãi quý quan”[3].
Trà Ô Long và sâm Cao Ly còn được dùng để cung tiến cung Trường Ninh, cung Gia Thọ và cung Từ Nghi “Chúng thần Thị vệ xứ phụng biên: Ngày hôm nay Bộ Lễ đem giao 4 hộp trà Ô Long và 2 hộp Sâm Cao Ly do Nha Kinh lược cung tiến lễ Tết Đoan dương. Trà và Sâm đã đến nơi, chúng thần sức kiểm tra thấy niêm phong còn nguyên vẹn. Xin trích cung tiến cung Gia Thọ 1 hộp trà Ô Long và 7 con Sâm; Cung Trường Ninh 5 cân trà và 5 con sâm; Cung Từ Nghi 5 cân trà và 5 con sâm, còn 2 hộp trà và 1 hộp sâm xin đem tiến nội”[4].
Bản Phụng biên của Thị Vệ xứ ngày mồng 4 tháng 5 năm Thành Thái 9 (1897) về việc cung tiến trà Ô Long và sâm Cao Ly cho các Cung. Nguồn: TTLTQGI.
Trà ướp hương (trà Phương Thái, trà Châu Lan, trà sen)
Hiện không có nhiều tư liệu ghi chép về trà Phương Thái. Chỉ biết rằng, trà Phương Thái là một loại trà được ướp hương thơm tinh tế, xếp vào danh trà cùng với trà Ô Long, trà Mai Hạc…
Trà Phương Thái, trà sen và trà Châu Lan là những loại trà hàng năm triều đình phái người tìm mua. Năm Minh Mạng 9 (1828) đặt lệ định cho Bắc thành, mỗi năm mua 10 hòm trà Phương Thái hảo hạng nộp về Kinh “Phó tổng trấn Bắc Thành tư trình: Ngày tháng 9 năm Minh mệnh 9, căn cứ tiếp nhận được tư văn nói rằng: Bản thành hàng năm đến kỳ vận tải, mua loại trà Phương Thái hảo hạng đủ 10 hòm, đến kỳ vận tải năm tới gửi theo đoàn thuyền về Kinh nạp, từ nay về sau lấy đó làm lệ… Lại như 2 loại trà Châu Lan và trà Sen, đã sức 2 phố Hàng Buồm, Quảng Phúc cùng các thông ngôn dự liệu mua trước. Những ngày gần tới kỳ, đã đòi bọn chúng, thì ty nói rằng người mua ở nước Thanh còn chưa mang tới, xin đợi khi nào có sẽ kính cẩn đệ nạp lên…”[5]
Trà sen là loại trà được ủ hương hoa sen. Thời vua Tự Đức, phương pháp ủ hương sen tự nhiên cho trà được mô tả rằng: Cứ mỗi 8 giờ tối, cung nữ chèo thuyền ra giữa hồ, chọn những bông sen vừa hé nụ, đặt vào mỗi bông một túi trà nhỏ, buộc nhẹ bông sen lại bằng dải lụa mỏng để sen ngậm trà qua đêm. Đến sáng ra lại chèo thuyền ra hồ, mở dây buộc, lấy lại túi trà, gom những giọt sương trên lá sen về để đun nước pha trà cho nhà vua ngự.
Trà sen thường được dùng trong các dịp lễ lớn của triều đình, để khoản đãi khách quý và cung tiến các cung. Theo bản tấu ngày 30 tháng 4 năm Thành Thái 10 (1898) của Thị vệ xứ, nhân lễ Đoan dương, Bộ Hộ mua trà Ô Long cung tiến 3 cung còn trà sen cung tiến Nội “Thị vệ xứ tâu: Nay nhận được tư trình của Bộ Hộ rằng: Nay kính gặp lễ lớn Đoan dương, theo lệ sức mua 3 hộp trà Ô Long và 1 hộp trà sen, đệ nạp về xứ thần. Trà đó đem đến nơi, thần sức kiểm tra đúng như tư văn nói. Xin đem 3 hộp trà Ô Long cung tiến 3 cung mỗi nơi 1 hộp, còn 1 hộp trà sen đem tiến Nội. Châu điểm”[6].
[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 91, tờ số 90
[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mệnh, tập 61, tờ số 100
[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 17, tờ số 32
[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 29, tờ số 137
[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng, tập 36, tờ số 392
[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 43, tờ số 152
Hải Yến