11:21 PM 03/05/2026  | 

Thế miếu là nơi thờ tự quan trọng nhất trong khu vực Hoàng thành Huế.Thế miếu được xây dựng để thờ các vị vua triều Nguyễn. Ngoài ra, miếu có hai tòa Tả vu và Hữu vu là nơi tòng tự các vị công thần thời trung hưng.

 

Thế miếu (còn gọi là Thế tổ miếu) nằm trong khu vực Hoàng thành Huế, chiếm vị trí quan trọng nhất trong các miếu thờ nơi đây. Theo Đại Nam thực lục và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, miếu được xây dựng vào tháng 2 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821). Nguyên tại vị trí này là miếu Hoàng khảo, khi dựng Thế miếu đã cho dời miếu ấy dựng ra phía Bắc. Tháng 1 năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Thế miếu xây dựng xong. Miếu nằm bên trong cửa Chương Đức, phía Tây Nam của Hoàng thành, bên phải điện Thái Hòa, mặt về hướng Nam.

Thế miếu là một công trình kiến trúc gỗ rất lớn, được xây theo lối “trùng thiềm điệp ốc”. Chính sử Đại Nam thực lục chép: “Thế miếu làm xong (nhà chính, nhà trước đều chín gian hai chái; hai bên tả hữu hai nhà vuông; chính giữa sân là gác Hiển Lâm ba tầng; bên tả là cửa Tuấn Liệt trên có lầu chuông; bên hữu là cửa Phong Công trên có lầu trống; phía trước có Tả vu, Hữu vu thờ các vị tòng tự; tường vây quanh có năm cửa; phía trước gọi là cửa Miếu, phía tả là cửa Khải Địch, phía hữu là cửa Sùng Thành, phía trước bên tả là cửa Hiển Hựu, bên hữu là cửa Đốc Hựu. Cửa Phong Công sau đổi làm Sùng Công).

Thế miếu

 Sưu tầm

Thế miếu ban đầu xây dựng để thờ Thế tổ Cao Hoàng đế, về sau trở thành nơi thờ các vị vua triều Nguyễn băng hà khi còn tại vị. Vì vậy, ban đầu Thế miếu thờ bẩy vị vua. Năm 1954, Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc đã đưa ba vị vua yêu nước, từng bị Pháp bắt đi đày là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân vào thờ trong Thế miếu. Do đó, hiện nay trong Thế miếu có 10 án thờ. 

Ngoài nơi thờ các vị vua nhà Nguyễn, Thế miếu còn có hai tòa Tả vu và Hữu vu là nơi phối thờ các vị công thần, huân thần. Tòa Tả vu thờ bốn vị công thần thuộc Hoàng tộc, tòa Hữu vu thờ các công thần thuộc bách tính. Theo Đại Nam thực lục thì tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 5 (1824), vua chuẩn cho 16 vị thân huân công thần vào tòng tự trong Thế miếu. Chính sử chép: “Cho 16 người thân huân công thần thời trung hưng được tòng tự ở Thế miếu (Tả vu thờ bốn vị thân huân là Thái phó Nghị công Tôn Thất Mân, Thái bảo Tương công Tôn Thất Điển, Thái phó Quốc công Tôn Thất Huy, Chưởng tiền quân Quận công Tôn Thất Hội. Hữu vu thờ 12 vị công thần là Thái uý Quốc công Võ Tánh, Thái tử Thái sư Quận công Ngô Tòng Chu, Đại đô đốc Quận công Chu Văn Tiếp, Thiếu bảo Quận công Võ Di Nguy, Thái bảo Quận công Nguyễn Văn Trương, Thái phó Quận công Phạm Văn Nhân, Thái phó Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, Trung dinh Giám quân Tống Phước Đạm, Chưởng cơ Nguyễn Văn Mẫn, Chưởng dinh Đỗ Văn Hựu, Thái bảo Quận công Nguyễn Văn Nhân, Đô thống chế Hậu dinh Mai Đức Nghị)”.

Năm 1827, vua Minh Mệnh cho Thái phó Nguyễn Đức Xuyên được tòng tự trong Thế miếu. Đại Nam thực lục viết: “Cho Trung hưng công thần là Thái phó Nguyễn Đức Xuyên được tòng tự ở Thế miếu, thần vị bày ở dưới Nguyễn Huỳnh Đức”. 

Thời vua Tự Đức, việc tòng tự này vẫn theo như thời Minh Mệnh. Bản tấu của Bộ Lễ ngày 04 tháng 3 năm Tự Đức thứ 10 (1857) cho biết khi đó tòa Tả vu, Hữu vu tòng tự 11 án, thờ 17 vị công thần. Nội dung các án thờ được kê khai cụ thể như sau:

“Tòng tự trong Thế miếu tất cả 11 án:

Tả vu tòng tự 4 án hiện thờ 4 người.

- Án thứ nhất: Tá vận tôn thần Tôn nhân phủ Tôn nhân lệnh thụy Trung Hoài An Biên quận vương Tôn Thất Mân

- Án thứ 2: Tá vận Tôn thần Tôn nhân phủ Tôn nhân lệnh thụy Trung Tráng Thông Hóa quận vương Tôn Thất Điển.

- Án thứ 3: Tá vận Tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính đặc tiến Tráng Vũ đại tướng quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự thụy Tĩnh Hiến An Tây công Tôn Thất Huy.

- Án thứ 4: Tá vận Tôn thần Tôn nhân phủ Tả Tôn chính đặc tiến Tráng Vũ đại tướng quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự thụy Túc Vũ Lạng Giang quận công Tôn Thất Hội.

Hữu vu tòng tự 7 án, hiện thờ 13 người

- Án thứ nhất: Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ đại tướng quân Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái sư thụy Trung Liệt Hoài quốc công Võ Tôn Tánh.

- Án thứ 2: Tá vận công thần đặc tiến Vinh lộc đại phu Hiệp biện đại học sĩ Thiếu sư kiêm Thái tử Thái sư thụy Trung Mẫn Ninh Hòa quận công Ngô Tòng Chu.

- Án thứ 3:

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo thụy Tráng Liệt Lâm Thao quận công Chu Văn Tiếp.

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Thủy quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo thụy Tráng Túc Bình Giang quận công Võ Di Nguy.

- Án thứ 4:

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ đại tướng quân Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo thụy Chiêu Vũ Đoan Hùng quận công Nguyễn Văn Trương.

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó thụy Hiến Tĩnh Tiên Hưng quận công Phạm Văn Nhân.

- Án thứ 5:

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó thụy Chiêu Nghị Kiến Xương quận công Nguyễn Huỳnh Đức.

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái phó thụy Hoàn Dũng Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên.

+ Tá vận công thần Vinh Lộc đại phu hiệp biện Đại học sĩ Thiếu sư kiêm Thái tử Thái sư thụy Văn Cung Tuân Nghĩa hầu Tống Phước Đạm.

- Án thứ 6: 

+ Tá vận công thần Tráng Vũ tướng quân Tiền phong doanh Đô thống Thiếu bảo thụy Tương Tráng Duy Tiên hầu Nguyễn Văn Mẫn.

+ Tá vận công thần Tráng Vũ tướng quân Tiền phong doanh Đô thống Thiếu phó thụy Tương Liệt Phụ Dực hầu Đỗ Văn Hựu.

- Án thứ 7:

+ Tá vận công thần đặc tiến Tráng Vũ tướng quân Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo thụy Mục Hiến Kinh Môn quận công Nguyễn Văn Nhân.

+ Tá vận công thần Tráng Vũ tướng quân Thần sách quân Hậu doanh Đô thống Thiếu bảo thụy Cung Cẩn Vĩnh Lại hầu Mai Đức Nghị”. 

Tờ đầu bản tấu của Bộ Lễ ngày 04 tháng 3 năm Tự Đức thứ 10 (1857) về việc 

kê khai các án tòng tự trong Thái miếu, Thế miếu và Vũ miếu.

Nguồn: TTLTQGI

 

Như vậy, Thế miếu không chỉ là nơi thờ tự các vua triều Nguyễn mà còn là nơi phối thờ các công thần trung hưng. Việc đưa các vị công thần tòng tự trong Thế miếu cho thấy sự ghi nhận công lao và tấm lòng ưu hậu của các vua triều Nguyễn đối với công thần.

Nguyễn Hường