Cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Việt Nam trên trang nhất các báo
Đầu năm 1975, quân ta giành thế chủ động trên cục diện chiến trường miền Nam, mở đầu là ngày 06/01/1975, sư đoàn 301 làm chủ hoàn toàn Phước Bình, thủ phủ của tỉnh Phước Long ở Bắc Sài Gòn, và hai ngày sau làm chủ hoàn toàn tỉnh Phước Long.
Trong khi đó, chính quyền ngụy miền Nam Việt Nam lâm vào tình thế bị mất “bầu sữa tài chính” mang tên nước Mỹ. Đầu tháng 3/1975, các đảng viên đảng Dân chủ ở cả Hạ viện lẫn Thượng viện Mỹ bỏ phiếu phản đối đề nghị của Tổng thống Gerald Ford yêu cầu Quốc hội nước này cấp thêm 522 triệu đô la viện trợ quân sự cho chính quyền ngụy ở Nam Việt Nam và Campuchia, nhằm đối phó với 289.000 quân Bắc Việt Nam được trang bị xe tăng, pháo hạng nặng và hàng trăm vũ khí phòng không chi viện ở miền Nam Việt Nam.
Miền Bắc chi viện cho miền Nam ruột thịt. Nguồn: API Gamma Rapho
Chiến dịch Tây Nguyên
Ngày 04/3, quân ta mở màn Chiến dịch Tây Nguyên - mật danh là Chiến dịch 275, dốc toàn lực, kiên định quyết tâm giành thắng lợi để thống nhất đất nước. Ngày 10/3, quân ta tấn công Buôn Mê Thuột và chỉ trong vài giờ đã làm chủ gần như hoàn toàn thành phố. Theo giới phân tích Mỹ, đây có thể là khởi đầu cho sự kết thúc chính quyền thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam.
Loạt trận tiến công mở màn chiến dịch, với trận đánh then chốt đánh chiếm thị xã Buôn Mê Thuột ngày 11/3/1975, đã làm rung chuyển toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Tây Nguyên và vùng giáp ranh đồng bằng Trung Trung Bộ. Ngày hôm đó, trong cuộc họp với các tướng lĩnh cấp cao, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu chỉ đạo quân đội ngụy tập trung bảo vệ vùng đất trung tâm bất khả xâm phạm, đông dân cư ở phía Nam, còn ở phía Bắc thưa dân cư, vấn đề là “giữ những gì có thể giữ được”.
Ngày 13/3, bị giáng đòn choáng váng, địch vội vã cho máy bay lên thẳng đổ bộ trung đoàn 45 ngụy xuống vị trí cách phía đông thị xã Buôn Mê Thuột chừng 6km, đồng thời tập trung lực lượng lớn gồm quân chủ lực, quân biệt động và quân bảo an tại chi khu quân sự quận lỵ Phước An. Toàn bộ lực lượng này được máy bay và đại bác yểm trợ, hòng chiếm lại thị xã Buôn Mê Thuột.
Quân ta làm chủ hoàn toàn Buôn Mê Thuột, lính ngụy thuộc sư đoàn 23 của quân đội Việt Nam Cộng hòa đào ngũ, tháo chạy cùng gia đình, tạo ra cảnh tượng hỗn loạn như những gì diễn ra trong hai tháng sau đó.
Sau khi tiến công tiêu diệt địch trên các hướng Bắc Kon Tum, Nam Pleiku, cắt đường số 19, 21, 14, đánh chiếm các chi khu quân sự, quận lỵ Thuận Mẫn, thực hành nghi binh, triển khai lực lượng ở hướng tiến công chủ yếu, hình thành thế bao vây chia cắt chiến dịch, từ ngày 09-12/3/1975, bộ binh và xe tăng Quân giải phóng đã bất ngờ giáng đòn sấm sét vào toàn bộ các căn cứ quân địch ở chi khu quân sự, quận lỵ Đức Lập, thị xã Buôn Mê Thuột, chi khu quân sự quận lỵ Buôn Hồ. Sau ba ngày chiến đấu anh dũng, mưu trí, táo bạo, Quân giải phóng đã tiêu diệt và làm tan rã sở chỉ huy sư đoàn ngụy số 23, 2 tiểu đoàn thuộc trung đoàn số 53, 2 tiểu đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn bảo an, gây thiệt hại nặng cho liên đoàn quân biệt động ngụy số 21, làm tan rã toàn bộ quân địa phương và phòng vệ dân sự, giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Mê Thuột, các chi khu quân sự, quận lỵ Đức Lập, Buôn Hồ và Hòa Bình.
Ngày 14/3, trong cuộc họp với các chỉ huy cấp cao ở Cam Ranh, Tổng thống Thiệu ra lệnh điều quân từ Pleiku và Kontum để tái chiếm Buôn Mê Thuột, đồng nghĩa với việc chính quyền ngụy bỏ rơi hai thành phố này. Ngày 19/3, sau chiến thắng ở Tây Nguyên, quân ta triển khai tấn công quân địch ở Quảng Trị và nhanh chóng giành thắng lợi.
Từ ngày 14/3-17/3/1975, Quân giải phóng đã thừa thắng xông lên, tiến công tiêu diệt trung đoàn ngụy số 53 ở căn cứ Hòa Bình, đánh thẳng vào chi khu quân sự quận lỵ Phước An, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch ở đây, đập tan âm mưu phản kích của địch.
Ngày 18/3, Quân giải phóng truy kích, tiêu diệt số tàn quân của địch ở Chư Cúc, làm tan rã hoàn toàn sư đoàn ngụy số 23. Sau khi mất Buôn Mê Thuột và căn cứ Phước An, quân địch vô cùng hoảng sợ, toàn bộ lực lượng ở Kon Tum, Plây-Cu, Cheo Reo đã tháo chạy. Nắm vững thời cơ tiêu diệt địch, Quân giải phóng từ các hướng cơ động lực lượng, tổ chức truy kích thần tốc, tiêu diệt địch và giải phóng Tây Nguyên.
Chiến dịch Hồ Chí Minh và đại thắng ngày 30/4/1975[1] - đỉnh cao của cách mạng Việt Nam
Ngày 14/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định, mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Ở hướng Đông, quân và dân ta mở các đợt tiến công mãnh liệt vào tuyến phòng ngự của địch ở Xuân Lộc (tỉnh Long Khánh). Quân Giải phóng đã liên tiếp đánh chiếm căn cứ Dầu Giây và một phần thị xã Xuân Lộc, cắt đường số 1, bao vây địch trong thị xã này. Qua nhiều trận quyết chiến quyết liệt, đúng 01 giờ ngày 21/4, quân và dân ta đã chiếm và làm chủ thị xã Xuân Lộc, tiêu diệt và làm tan rã chiến đoàn ngụy số 52, 2 chi đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh, 13 đại đội bộ binh, gây thiệt hại nặng nề cho sư đoàn ngụy số 18, lữ đoàn lính dù số 1, chiến đoàn đặc nhiệm số 315.
Tại Ninh Thuận, từ ngày 14/4/1975, Quân giải phóng đã phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tấn công tập đoàn phòng ngự của địch ở Phan Rang. Đến ngày 16/4, bộ binh và xe tăng của Quân giải phóng đã thọc sâu, đánh thẳng vào sở chỉ huy tiền phương của quân đoàn 3, sân bay Thành Sơn, thị xã Phan Rang và giải phóng toàn tỉnh Ninh Thuận. Quân giải phóng đã tiêu diệt và làm tan rã sở chỉ huy tiền phương quân đoàn 3, sở chỉ huy sư đoàn bộ binh số 2, sở chỉ huy sư đoàn không quân số 6, lữ đoàn lính dù số 2, trung đoàn số 4 và 5 thuộc sư đoàn bộ binh số 2 (vừa được khôi phục lại), liên đoàn quân biệt động số 31, một chi đoàn thiết giáp, sư đoàn không quân số 6, đồng thời bắt trung tướng Nguyễn Văn Nghi - Chỉ huy bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 3 và chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang - Tư lệnh sư đoàn không quân ngụy số 6, thu toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh.
Từ ngày 16/4 đến ngày 25/4, trên đường tiến quân, Quân giải phóng đã phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang địa phương tiến công tiêu diệt địch, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Thuận và thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Tuy và thị xã Hàm Tân.
Cùng thời gian đó, ở hướng Tây Nam, Quân giải phóng đã tấn công thị xã Tân An, các chi khu quân sự, quận lỵ Thủ Thừa, Tân Trụ, Cần Đước, Bến Lức, cắt đường số 4, tạo thế bao vây, chia cắt chiến dịch. Từ 17 giờ ngày 26/4 đến ngày 01/5/1975, cuộc tiến công của Quân giải phóng vào tuyến phòng thủ cuối cùng của địch đã diễn ra trên các hướng.
Trong các ngày 26, 27 và 28/4, trên trục đường số 1, Quân giải phóng đã đánh chiếm yếu khu quân sự Trảng Bom, bao vây địch ở thị xã Biên Hòa. Một đơn vị Giải phóng quân đã nhanh chóng thọc sâu, đánh chiếm và giữ cầu xa lộ Biên Hòa, cắt đứt giao thông của địch.
Báo cáo ngày 28/4/1975 của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ về tình hình miền Nam Việt Nam. Nguồn: Lưu trữ quốc gia Mỹ.
Bên trái: Tổng thống Gerald R. Ford chủ trì cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ về tình hình miền Nam Việt Nam ngày 28/4/1975. Bên phải: Tổng thống Gerald R. Ford gọi điện về việc sơ tán người Mỹ khỏi Sài Gòn, ngày 29/4/1975. Nguồn: Lưu trữ quốc gia Mỹ
Cũng trong thời điểm đó, Quân giải phóng đã tiến đánh trường sĩ quan thiết giáp ngụy tại căn cứ Nước Trong, các căn cứ quân sự của địch tại tỉnh Biên Hòa, sân bay Long Thành trên trục đường số 15, từ đó triển khai lực lượng về Nhơn Trạch, Cát Lái, bố trí pháo binh bắn phá, khống chế hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất và nhiều mục tiêu quân sự khác trong thành phố Sài Gòn.
Quân giải phóng đã cắt nhiều đoạn trên trục đường số 4, đường số 22 đồng thời bắn pháo lớn vào thị xã Tây Ninh, Gò Dầu Hạ. 17 giờ 30 phút ngày 28/4, không quân Quân giải phóng tấn công sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy nhiều máy bay địch, gây thiệt hại nặng nề.
Cho đến ngày 28/4, tất cả các cánh quân lớn của Quân giải phóng đã bao vây chặt quân địch tại Sài Gòn.
Đúng 0 giờ ngày 29/4/1975, các binh đoàn chủ lực Quân giải phóng tiến hành đợt Tổng công kích vào tuyến phòng thủ cuối cùng của địch. Cùng ngày, Mỹ mở chiến dịch Frequent Wind di tản những người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, trong đó có đại sứ Martin. 7 giờ 53 sáng ngày 30/4, chiếc trực thăng cuối cùng của chiến dịch, chở 11 lính thủy đánh bộ Mỹ, cất cánh từ nóc tòa Đại sứ quán Mỹ, cùng thời điểm đó, quân ta tiến vào Sài Gòn và chỉ gặp vài kháng cự yếu ớt, lẻ tẻ.
Bức điện cuối cùng của Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ngày 29/4/1975. Nguồn: Lưu trữ quốc gia Mỹ
Cánh quân lớn phía Đông bắc của Quân giải phóng đã tấn công, tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Biên Hòa, đồng thời làm tan rã sở chỉ huy quân đoàn ngụy số 3, lực lượng quân biệt động, đánh chiếm và làm chủ sân bay Biên Hòa, từ đó phát triển tiến công về Sài Gòn.
Cánh quân lớn phía Đông của Quân giải phóng lần lượt đập tan tuyến phòng ngự của các lực lượng lính thủy đánh bộ, lính dù, lính thiết giáp ngụy ở Long Bình, vượt cầu xa lộ Biên Hòa đánh chiếm Thủ Đức, vượt cầu xa lộ Sài Gòn, nhanh chóng đánh chiếm Phủ Tổng thống ngụy quyền. Đúng 9 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, một đơn vị bộ binh và xe tăng của Quân giải phóng đã chiếm được Phủ Tổng thống. Một mũi khác của cánh quân này đã đánh chiếm chi khu quân sự quận lỵ Nhơn Trạch và khu kho Thành Tuy Hạ. Ngày 29/4, một mũi của Quân giải phóng đã phát triển về phía Nam, đánh chiếm cảng Vũng Tàu.
Cánh quân lớn phía Tây bắc của Quân giải phóng đã tiến đánh quân địch trên trục đường số 1. Các đơn vị bộ binh và xe tăng của Quân giải phóng lần lượt đánh chiếm tập đoàn phòng ngự của địch ở căn cứ Đồng Dù, Củ Chi, tiêu diệt và làm tan rã sư đoàn bộ binh ngụy số 25. Đồng thời, một mũi của cánh quân này đã nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm cầu Bông, cầu Sáng, tiến công theo hướng Hóc Môn, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất lúc 9 giờ ngày 30/4.
9 giờ 30 phút ngày 29/4, cánh quân lớn phía Bắc của Quân giải phóng đánh chiếm căn cứ địch ở Phú Lợi, bao vây tiến công địch ở Thủ Dầu Một, tiêu diệt và làm tan rã phần lớn sư đoàn ngụy số 5. Tiếp đó, Quân giải phóng tiếp tục tiến công vào Lai Khê, Bến Cát, buộc sư đoàn ngụy còn lại phải đầu hàng. Đồng thời, một đơn vị khác của cánh quân này sau khi tiêu diệt địch ở Tân Uyên đã đánh thẳng về Lái Thiêu: ngày 30/4, đơn vị này đã tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở Lái Thiêu, thừa thắng đánh thẳng vào Sài Gòn, chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy vào lúc 8 giờ 30 ngày 30/4.
Cánh quân lớn phía Tây và Tây nam của Quân giải phóng đã đánh chiếm các khu vực Hậu Nghĩa, phát triển vào Đức Hòa và tiến đánh biệt khu Thủ đô, khu trung tâm truyền tin Phú Lâm, căn cứ quân sự địch ở trường đua Phú Thọ, các quận 6, 7, 8. Đồng thời các đơn vị khác của cánh quân này đánh chiếm Tân An, Bến Lức và Thủ Thừa, tiêu diệt và làm tan rã 2 trung đoàn của sư đoàn bộ binh ngụy số 22 (vừa khôi phục lại), liên đoàn quân biệt động số 6, cắt đứt đường số 4 ở nhiều đoạn, chia cắt đồng bằng sông Cửu Long với Sài Gòn và cô lập Sài Gòn.
Chỉ trong 4 ngày chiến đấu vô cùng anh dũng, mưu trí, táo bạo, các cánh quân lớn của Quân giải phóng đã tiến công như vũ bão, đập tan hệ thống phòng ngự của địch trên các hướng Đông, Đông bắc, Tây bắc, Bắc, Tây và Tây nam, đánh chiếm những mục tiêu quan trọng của địch ở Sài Gòn - Gia Định, buộc quân địch phải đầu hàng vô điều kiện.
Toàn thắng đã thuộc về chúng ta khi chiếc xe tăng T54 số hiệu 544 cắm cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam húc đổ cánh cổng sắt dinh Tổng thống và Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Thừa thắng, quân và dân ta đã tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, buộc toàn bộ lực lượng quân sự của địch ở quân khu 4 phải đầu hàng. Quân và dân ta đã đập tan bộ máy kìm kẹp của địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh còn lại của Nam Bộ. Ngày 30/4/1975, các chiến sĩ yêu nước bị địch giam giữ tại đảo Côn Sơn đã nổi dậy, làm chủ hoàn toàn đảo này.
Ngày 01/5/1975, một ngày sau khi từ chức, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh rời Dinh Độc lập. Nguồn: Yves Billy, sách "Lịch sử chiến tranh Việt Nam qua ảnh" của hãng thông tấn Mỹ AP
Trong tháng 4/1975, Quân giải phóng đã giải phóng các đảo dọc bờ biển Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ; tại quần đảo Trường Sa, đã tấn công và giải phóng các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa và An Bang. Ngày 02/5/1975, đảo Phú Quốc hoàn toàn được giải phóng.
Xe tăng T54, số hiệu 844 húc đổ cổng sắt dinh Tổng thống ngày 30/04/1975. Nguồn: Tạp chí Geo số ra tháng 12/2016-01/2017
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hơn 40 vạn tên địch, đập tan quân đoàn ngụy số 3 và 4 gồm 10 sư đoàn bộ binh, lính dù, lính thủy đánh bộ (có 3 sư đoàn mới được khôi phục lại), 3 sư đoàn không quân, phần lớn lực lượng hải quân, toàn bộ lực lượng xe tăng, thiết giáp, pháo binh, thu toàn bộ kho tàng, cơ sở thiết bị và phương tiện chiến tranh của địch ở Sài Gòn cùng hai quân khu 3 và 4 của ngụy.
Báo Nhân dân và Quân đội nhân dân số ra ngày 01/5/1975 đưa tin toàn thắng ngày 30/4/1975
[1] Theo Niên giám chiến tranh Việt Nam (Vietnam War Almanac), James H. Willbanks, 2009, trang 444-449, các tài liệu lưu trữ của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ được giải mật từ năm 2000 và tài liệu lưu trữ quốc gia Mỹ.
Ngọc Nhàn