Thời Vua Gia Long (1802-1819), khu Lục bộ nằm trên địa phận phường Liêm Năng và Thận Cầu (phía Bắc của Hoàng thành). Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), triều đình di dời các công sở Lục bộ về vị trí hiện tại ở phường Trung Hậu (phía Đông bên ngoài Hoàng thành Huế). Nhà Vua cho xây dựng cơ quan Lục Bộ, rộng lớn hơn trước: Mỗi Bộ đường gồm 5 tòa nhà, mỗi tòa nhà đều xây tường gạch bao quanh. Để nâng cao hiệu quả công việc và đảm bảo mối liên hệ giữa các Bộ, triều Nguyễn cho tập trung Lục bộ vào một khu bên trái của Hoàng cung. Các Bộ đường đều được bố trí thành hàng chữ “nhất” (一), từ tây sang đông, theo thứ tự: Lại - Hộ - Lễ - Binh - Hình - Công[1].
Nơi làm việc của Lục bộ được chia làm 3 khu: Khu Thượng thư có sáu công trình Thượng thư đường là nơi làm việc của Thượng thư (quan đứng đầu mỗi Bộ); Khu Tham tri là nơi làm việc của các quan Tham tri (tương đương Thứ trưởng ngày nay) và Khu Thị lang là nơi làm việc của các quan Thị lang (đứng đầu các Viện hoặc Phủ). Toàn bộ khu Lục bộ hiện tại được bao quanh bởi bốn con đường trong Thành Nội là đường Nguyễn Chí Diểu, Đoàn Thị Điểm, Mai Thúc Loan và Lê Thánh Tôn, thuộc phường Thuận Thành, thành phố Huế.
Trong hệ thống chính quyền thời Nguyễn, Lục bộ là những cơ quan chủ chốt ở triều đình. Với chức năng giúp nhà Vua điều hành công việc của triều đình, Lục bộ trở thành cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền nhà Nguyễn. Mọi biến động trong đời sống kinh tế - xã hội - chính trị thời Nguyễn đều gắn bó mật thiết với những hoạt động của Lục Bộ. Mỗi Bộ đều được giao chức năng cụ thể: Bộ Lại phụ trách việc tuyển chọn, bổ nhiệm, thăng thưởng, bãi miễn và quản lý hồ sơ quan lại từ trung ương đến địa phương (tương đương Bộ Nội vụ ngày nay). Bộ Lễ lo việc nghi lễ, tế tự, thi cử, giáo dục, ngoại giao, trường học, áo mũ, ấn tín, và các sở y tế, thiên văn (tương đương Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao ngày nay). Bộ Hộ quản lý tài chính, thuế khóa, ruộng đất, kho tàng, tiền tệ và lương thực (tương đương Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công thương ngày nay). Bộ Binh quản lý quân đội, quốc phòng, việc tuyển quân, binh khí, và bưu chính (tương đương Bộ Quốc phòng ngày nay). Bộ Hình chuyên trách luật pháp, tư pháp, tố tụng, án tù và hình phạt (tương đương Bộ Tư pháp hiện nay). Bộ Công quản lý xây dựng công trình cung đình, lăng tẩm, đê điều, cầu cống, đóng tàu và quản lý thợ thủ công (tương đương Bộ Xây dựng ngày nay).
Năm Gia Long thứ nhất (1802), thiết lập Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) theo chế độ phẩm trật, danh chức các quan chức dưới thời Lê Thánh Tông[2]. Quan Đại thần đứng đầu mỗi Bộ có chức Thượng thư (1 viên), Tả, Hữu Tham tri (2 viên), Thiêm sự (3 viên) tham gia giúp việc. Bên dưới có các chức Câu kê, Cai hợp, Thủ hợp ở ty Lệnh sử và số người trong bản ty là 60 viên [3]. Tháng 11 năm Gia Long thứ 8 (1809), mới chính thức đặt chức Thượng thư Lục bộ. “Lấy Thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định làm Thượng thư Hộ bộ, cải thụ Lại bộ Trần Văn Trạc làm Thượng thư Lại bộ, Lễ bộ Đặng Đức Siêu làm Thượng thư Lễ bộ, Binh bộ Đặng Trần Thường làm Thượng thư Binh bộ,
Hình bộ Nguyễn Tử Châu làm Thượng thư Hình bộ, Công bộ Trần Văn Thái làm Thượng thư Công bộ, Hình bộ Phạm Như Đăng làm Thượng thư Hình bộ vẫn lãnh công việc Hình tào ở Bắc Thành. Sáu bộ đặt chức thượng thư bắt đầu từ đấy”[4].
Ngày Đinh Sửu tháng 2 năm Gia Long thứ 3 (1804), Lục bộ bắt đầu đặt chức Thượng thư.
Nguồn: Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, Đệ nhất kỉ, quyển 39, trang 16.
Dưới triều Vua Minh Mệnh (1820-1840), chức danh phẩm trật làm việc ở các Bộ được kiện toàn ổn định. Mỗi Bộ đặt một Thượng thư đứng đầu hàm Chánh nhị phẩm, hai viên Tham tri hàm Tòng Nhị phẩm Văn giai, hai viên Thị lang (Tả Thị Lang và Hữu Thị lang) hàm Chánh Tam phẩm Văn giai, ngoài ra còn có các viên Lang trung, Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ, Thư lại giúp việc. Mỗi Bộ lại chia làm nhiều cơ quan trực thuộc như: xứ, ty, sở… đặt một Lang trung hay Chủ sự đứng đầu giúp Thượng thư chỉ đạo các tỉnh, trấn trong cả nước về phần chuyên môn của Bộ mình. Về cơ bản, tổ chức cơ quan Lục bộ dưới triều Minh Mệnh không thay đổi cho đến cuối thế kỷ XIX.

Bản tấu của Lục bộ ngày 27 tháng 3 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) về việc hộ giá hồi loan.
Nguồn: TTLTQG I, Châu bản triều Nguyễn.

Phủ phụ chánh triều Vua Duy Tân. Từ trái sang phải: Tôn Thất Hân (Thượng thư Bộ Hình), Nguyễn Hữu Bài (Bộ Lại), Huỳnh Côn (Bộ Lễ), Hoàng thân Miên Lịch, Lê Trinh (Bộ Công), Cao Xuân Dục (Bộ Học).
Nguồn: Sưu tầm.
Sau trận chiến ác liệt giữa quân đội triều Nguyễn với quân đội Pháp vào đêm 22, rạng sáng 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5/7/1885), Kinh đô Huế thất thủ, khu vực Lục bộ bị hư hại nặng. Công trình Lục bộ ngày nay là phần được vua Thành Thái (1889-1907) cho xây dựng lại với quy mô nhỏ hơn. Năm Duy Tân thứ 4 (1910), nhà Nguyễn cho sắp xếp lại dinh thự của Tả, Hữu Tham tri, Thị lang các Bộ[5]. Năm Khải Định thứ 2 (1917), trích 1.179 đồng 8 hào 9 xu tu bổ các Đường thự của Tham tri, Thị lang Lục bộ[6]. Năm 1945, sau khi triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam - Triều Nguyễn - cáo chung, phần lớn khu vực này trở nên hoang phế hoặc bị các cơ quan công quyền và dân cư chiếm cứ, xây dựng nhà cửa. Năm 2005, công trình này được bàn giao cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế quản lý. Tháng 10 năm 2016, khu Lục bộ chỉ còn lại một số công trình chính như Thượng thư đường và Bộ Công tại đường Nguyễn Chí Diểu thành phố Huế. Đồng thời, Trung tâm Di tích Cố đô Huế đã đầu tư chỉnh trang hệ thống nhà cửa, sân vườn để triển khai dịch vụ hoạt động văn hóa.

Lục bộ thời Nguyễn hiện nay tại 79 Nguyễn Chí Diễu, phường Đông Ba, quận Phú Xuân, thành phố Huế
Nguồn: Sưu tầm.

Không gian văn hóa Lục bộ Huế ngày nay.
Nguồn: Sưu tầm.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa .Huế. 1992, tr. 57.
[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, tập 1, Nxb Giáo dục 2007, tr. 988.
[3] Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 2, Nxb Thuận Hóa 1993, tr. 47.
[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, tập 1, Nxb Giáo dục, H.2007, tr. 819.
[5] TTLTQG I, CBTN, Duy Tân tập số 38, tờ số 134.
[6] TTLTQG I, CBTN, Khải Định tập số 2, tờ số 122.
Thu Thủy