02:58 PM 30/08/2019  | 

Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Đội Cấn tức Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo nổ ra đêm ngày 30 rạng sáng ngày 31 tháng 8 năm 1917 là cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp lớn nhất, có tiếng vang lớn ở nước ta trong thời kỳ Đại chiến Thế giới lần thứ nhất (1914-1918).

Đây là cuộc khởi nghĩa của các binh sĩ trong đơn vị Lính khố xanh (Garde indigène) ở Thái Nguyên do Đội Cấn lãnh đạo liên minh với các tù nhân là chính trị phạm bị thực dân Pháp giam ở nhà tù Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyến lãnh đạo.

Tài liệu lưu trữ bằng tiếng Pháp về cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên trong phông “Phủ Thống sứ Bắc Kỳ” (La Résidence supérieure au Tonkin) hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại (Le Centre des archives nationales d’Outre-Mer) của nước Cộng hòa Pháp ở Aix-en-Provence tương đối nhiều, nhiều hồ sơ có chung tiêu đề: “Révolte des militaires et des prisonniers de Thái Nguyên” (Khởi nghĩa của các binh sĩ và tù nhân ở Thái Nguyên), trong số đó có “Lời Hiệu triệu” của Đội Cấn bằng tiếng Pháp “Proclamation de Cấn, Chef des révoltés de Thái Nguyên” (1).

Nhân 102 năm cuộc Khởi nghĩa Thái Nguyên (30/8/1917 - 30/8/2019), chúng tôi dịch toàn văn văn bản này và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc, .

1. Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa:

Một số binh sĩ trong đơn vị Lính khố xanh (Garde indigène) ở Thái Nguyên:

Đội Cấn tức Trịnh Văn Cấn và các binh sĩ cùng đơn vị Lính Khố xanh ở Thái Nguyên luôn bị bọn chỉ huy là người Pháp khép vào những kỷ luật hà khắc và thường bị trừng phạt rất nặng mỗi khi phạm lỗi dù là nhỏ nên rất bất bình, đã âm thầm chuẩn bị làm một cuộc binh biến để trả thù bọn chỉ huy. (nên ngắt câu) Nhưng cao hơn hết là xuất phát từ lòng yêu nước, hiểu được nỗi thống khổ của nhân dân, hiểu được nỗi nhục mất nước nên ban đầu xuất phát từ sự bất bình cá nhân muốn trả thù bọn chỉ huy đã trở thành lòng yêu nước, nuôi ý trí tiến hành một cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, giải phóng dân tộc.

Theo báo cáo của Gilles và Tissot, những người lãnh đạo chính của cuộc khởi nghĩa gồm có (2) :

1. Trịnh Văn Cấn tức Đội Cấn (Quan Chánh): số lính 71, quê ở làng Yên Nghiêm, tổng Phương Trung, huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên;

2. Dương Văn Giá (Quan phó): số lính 697, quê ở làng Uc Son, tổng La Dinh, phủ Phú Bình tỉnh Thái Nguyên;

3. Dương Đình Xuyên (Quan năm): đội, số lính 789, quê ở làng La Bang, tổng Tiên Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;

4. Phạm Văn Trương (Hạ sỹ quan hậu cần-Sergent fourrier): số lính 788, quê ở làng Yên Lộc, tổng Yên Lộc, huyện Phong Doanh, tỉnh Nam Định;

5 Nguyễn Văn Chỉ (Ba Chỉ). Số lính 1107 không rõ quê quán, đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Hòang Hoa Thám;

6. Tổng Ngữ: nguyên là nghĩa sỹ trong cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám;

7. Chánh tổng Sơn La.

Cuộc khởi nghĩa chia làm ba nhóm:

Nhóm chính do Đội Cấn chỉ huy trong đó có Đội Giá và Đội Xuyến;

Nhóm Yên Thế do Ba Lam chỉ huy;

Nhóm thứ ba do Đội Hai chỉ huy.

Tù nhân là chính trị phạm bị thực dân Pháp giam tại nhà tù Thái Nguyên:

Hồ sơ số 36.279 trích báo “L’Avenir du Tonkin” (Tương lai Bắc Kỳ) số 6476 ra ngày thứ sáu 07-9-1917, viết như sau: “Các chiến sĩ hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Thái Nguyên là những người đã tham gia vào các phong trào yêu nước như: Phong trào Đông Du, Khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, Khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội”…

Trong số các tù nhân chính trị phạm này có những người có học thức cao, hiểu biết rộng, có thời gian dài tham gia các tổ chức cách mạng, được trang bị lý luận cách mạng, có đôi chút “liều lĩnh” nên đã thuyết phục, giác ngộ được các tù nhân khác, truyền cho họ lý tưởng, ý chí và lòng quyết tâm. Nổi bật trong số này là Lương Ngọc Quyến, con trai của Cử Can tức Lương Văn Can (là người sáng lập ra “Trường Đông Kinh Nghĩa thục”- là trường học truyền bá kiến thức và lý luận cách mạng, có ảnh hưởng lớn trong nước ta thời kỳ này. Lương Văn Can bị thực dân Pháp bắt và đày sang Cam-Pu-Chia và có lẽ đã chết ở đó).

Lương Ngọc Quyến hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt, kết án tù khổ sai chung thân rồi bị kết án tử hình và giam ở nhà tù Thái Nguyên. Ông đã đi hầu khắp vùng Viễn Đông (Extrêm-Orient), đã theo học Trường Quân sự ở Nhật và đã được phong cấp sĩ quan trong quân đội Nhật.

Lương Ngọc Quyến đã giảng giải lý luận cách mạng và chiến lược quân sự cho các tù nhân là chính trị phạm, truyền cho họ lòng quả cảm và lòng tin vào chiến thắng” (3).

    

Đội Cấn tức Trịnh Văn Cấn và Lương Ngọc Quyến (bên phải),hai thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên.  Ảnh Tư liệu

Những người lãnh đạo của hai lực lượng trên đã liên lạc, móc nối với nhau để bàn bạc và chuẩn bị tiến hành cuộc khởi nghĩa.

2. Lời hiệu triệu của Đội Cấn:

Về chuẩn bị tinh thần cho cuộc khởi nghĩa có: Cờ nền màu vàng với năm ngôi sao đỏ, Quốc hiệu lấy tên là Đại Hùng. Đội Cấn chịu trách nhiệm viết lời hiệu triệu dân chúng.

Sau đây là toàn văn Lời Hiệu triệu:

“Ngày 15 tháng 7 năm thứ nhất Đại Hùng đế quốc (“Đại Hùng đế quốc” là từ nguyên văn trong tài liệu) chúng tôi ký tên dưới đây là Trịnh…thống lĩnh của quân đội giải phóng của tỉnh Thái Nguyên, ra lời hiệu triệu này cho toàn dân nước Nam biết (nguyên văn tiếng Pháp “à la connaissance des enfants du pays d’Annam” (cho con dân nước Nam biết).

Than ôi! Do vận trời, nước nhà ta trở nên nghèo khổ và yếu hèn, làn gíó xấu thổi từ phương Tây sang phương Đông, các thế hệ chúng ta bị lụi tàn đã 50 năm nay, tài nguyên, của cải của chúng ta cạn kiệt, tiêu điều như bãi sa mạc, những người có trí lớn sống một cuộc sống vô vị, buồn tẻ. Bốn mươi triệu đồng bào ta sống ngột ngạt trong không khí nước sôi, lửa bỏng.

Tất cả những điều đó nung nấu thêm lòng ái quốc của các binh sĩ.

Những điều bất hạnh trời đất gây nên cho chúng ta thì nay như đã thấu hiểu nỗi khổ đau của chúng ta và mong muốn chúng ta trở nên thịnh vượng.

Ở bên ngoài có những người tốt giúp đỡ cúng ta.

Ở bên trong chúng ta có nhiều người có học thức, biết vận dụng những điều hay của bên ngoài vào thực tiễn của ta.

Năm Mậu Thân ở Hà Nội đã giết được giặc khiến chúng khiếp sợ mãi khi về đất nước.

Năm Kỷ Dậu, cuộc nổi dậy ở Lạng Sơn làm hả hê, khuây khỏa lòng người bị áp bức.

Trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã mở mang đầu óc chúng ta. Ở tỉnh Quảng Nam đã có phong trào chống thuế thân.

Ở Hà Nội, một học sinh đã dám hy sinh thân mình ném bom vào quân thù.

Xích Long khởi nghĩa ở Trung Kỳ.

Như vậy là chúng ta đã chiến đấu từ hơn 10 năm nay vì nền văn minh của chúng ta. Lòng yêu nước của chúng ta đã ngày càng mãnh liệt.

Những cố gắng của chúng ta bỏ ra để giành lại đất nước làm kẻ thù phải khiếp sợ và thức tỉnh tinh thần độc lập của chúng ta.

Lúc này cả châu Âu đang sôi động: giặc Pháp đã bị quấy phá ngay trên đất nước chúng. Anh và Nga đã liên minh với nhau để đánh Đức. Pháp đã mất những cánh tay tin cậy.

Thổ Nhĩ Kỳ và Áo đã chia cắt nước Ý để tấn công Pháp đến tận sào huyệt. Paris sẽ bị thất thủ nay mai. Liệu chúng (Pháp) có còn bảo hộ được chúng ta nữa hay không khi chúng bị tấn công ?

Chúng ta hãy tận dụng lúc Pháp đang yếu, chúng ta hãy tận dụng giờ phút duy nhất, ngàn năm có một này- cơ hội hiếm hoi nhất này để rửa nỗi nhục của chúng ta.

Hãy trả thù! Hãy vâng lệnh Hoàng đế, chúng ta hãy tập hợp lực lượng, quyết đánh đuổi quân thù với sự đồng lòng nhất trí trong, ngoài. Chúng ta hãy cùng hợp sức với Vương triều ở Trung Kỳ và với nước Trung Hoa. Binh sĩ của chúng ta đã được học binh pháp của nước láng giềng Trung Hoa hùng mạnh và của Nhật. Họ đã được thử thách qua nhiều trận mạc và đều sẵn lòng hy sinh thân mình vì Tổ quốc yêu dấu.

Với 100.000 hòm súng, đạn chúng ta quyết giáng cho quân thù đòn trừng phạt sấm sét. Chiến thắng sẽ về ta trong thời gian ngắn.

Binh lính của chúng ta không làm điều xấu, không lấy của cải của dân, họ sẽ có mặt ở mọi nơi để giữ gìn đất đai của tổ tiên, để đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Hỡi đồng bào! Hãy cố gắng, dốc sức hoàn thành nghiệp lớn của chúng ta để cho ngọn cờ 5 sao của chúng ta kiêu hãnh giương cao cùng năm châu để không phụ lòng mong mỏi, tin tưởng của đất nước.

Cuộc sống mới của Quốc gia sẽ trường tồn hàng ngàn, vạn năm khởi nguồn từ hôm nay.

Chúng ta sẽ rũ bỏ nỗi lo âu đè nặng từ bao lâu nay”.

Trên đây là toàn văn “Lời Hiệu triệu” của Đội Cấn, Thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa của binh sỹ và tù nhân ở Thái Nguyên ngày 30 tháng 8 năm 1917, trân trọng gới thiệu cùng bạn đọc ./.

Chú thích:

  1.  Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại CH Pháp, Hồ sơ số: 36.289, Phông tài liệu “Phủ Thống sứ Bắc kỳ
  2.  Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại CH Pháp, Hồ sơ số: 36.281, Phông TSBK
  3.  Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại CH Pháp, Hồ sơ số: 36.279, Phông TSBK.

Đinh Hữu Phượng