11:32 PM 14/05/2026  | 

Ngoài các lễ tiết chính trong năm và đầu năm mới như lễ Trừ tịch vào đêm cuối năm, lễ các ngày mùng Một, mùng Hai, mùng Ba Tết, tại các miếu, điện thờ ở Kinh thành mỗi năm lại có bốn lễ tế Hưởng vào đầu bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; trong đó lễ Hạ hưởng là lễ tế Hưởng vào đầu mùa hạ, nhằm ngày mồng Một tháng Tư âm lịch

Đối với bốn lễ tế Hưởng tại tôn miếu, triều Nguyễn quy định thời gian cụ thể như sau: Mùa xuân tế vào ngày mồng 8 tháng Giêng; Mùa hạ, mùa thu, mùa đông đều tế vào ngày mùng Một tháng Mạnh (tháng bắt đầu quý).

Tế tự được phân thành ba bậc: Đại tự (tế Trời đất và tôn miếu), Trung tự (tế Khổng Tử, Tiên nông, Đế vương đời trước), Quần tự (tế các thần kỳ được ghi chép trong điển lệ). Lễ tế đàn Nam Giao và Ngũ hưởng thuộc Đại tự. Chủ tế và người tham dự tế tự cũng được phân định theo từng bậc tế tự. Đối với lễ Đại tự và Trung tự, chủ tế là Vua và các thân tôn, hoàng tử, quan lại. Theo đó, lễ Xuân hưởng, Thu hưởng ở Thái miếu; lễ Hạ hưởng, Đông hưởng ở Thế miếu, Hoàng đế đích thân hành lễ.

Tuy nhiên, từ năm Tự Đức thứ 20 (1867) nhà Vua ủy cho Hoàng tử, Hoàng thân công và các Đại quan hành lễ thay. Châu bản triều Nguyễn ngày 28 tháng 3 năm Tự Đức 22 (1869) cũng ghi chép về việc này “Bộ Lễ tâu: Ngày mồng Một tháng tới, kính gặp lễ Hạ hưởng ở Thế Miếu. Kính xét, ngày tháng 9 năm Tự Đức 20, khâm phụng Châu phê trong đó có khoản: Từ nay trở đi, phàm có việc hành lễ, hãy lệnh cho người khác làm thay Trẫm. Nay lễ Hạ hưởng đã gần đến, trừ những Hoàng thân công được sung vào làm Nhiếp tế, Thừa tế ở các miếu điện, sẽ do phủ Tôn nhân theo lệ chọn sai ra. Còn người nào làm lễ ở án chính Thế miếu, thì căn cứ vào sự lựa chọn của phủ ấy rồi cử theo Hóa quận công Miên Ninh, đến ngày đó sẽ sung vào làm lễ thay. Châu điểm.[1]

Lễ vật dâng tế cũng được quy định rõ ràng về số lượng, chất lượng, hạng vật. Thời vua Gia Long, đặt lệ dùng nậm, chén hoặc dùng bằng vàng, bạc, thau thiếc thứ bậc khác nhau. Thời vua Minh Mạng, năm Minh Mạng thứ 10 (1829) nghị chuẩn quy định việc dùng nậm, chén và các dụng cụ đựng đồ tế trong lễ tế Giao để tỏ rõ chính vị và phối vị.

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) nghị chuẩn về 5 lễ hưởng (Ngũ hưởng) ở tôn miếu, cụ thể như sau: Mùa Xuân dùng nậm hy tôn (nậm hình con trâu), mùa Hạ dùng tượng tôn (nậm hình con voi), mùa Thu dùng nậm trước tôn (nậm không có chân, để dưới đất), mùa Đông dùng hồ tôn (nậm hình quả bầu), lễ Cáp hưởng dùng sơn tôn (nậm hình ngọn núi) đều chất đồng mạ vàng. Chén dùng các loại có men vàng, họa long vân. Các dụng cụ này chỉ được dùng vào 5 lễ hưởng. Các dịp khác như ngày kỵ, các tiết, ngày sóc, vọng thì dùng các dụng cụ nậm, chén, khay, chế bằng vàng cũ. Ngoài ra, các dụng cụ đựng đồ tế, bao gồm: đậu (vật liệu làm bằng gỗ để đựng các loại dưa tương và đồ nấu), biên (dụng cụ đan bằng tre để đựng hoa quả), đăng ( vật đựng canh), hình (chum đựng nước), phủ (giỏ đựng xôi, ngoài vuông trong tròn), quỷ (vật đựng xôi cúng tế) đặt ở các án khác nhau trong tôn miếu cũng quy định số lượng và chất liệu khác nhau để tỏ sự phân biệt.

Không chỉ nghiêm ngặt trong quy định về lễ vật dâng tế và dụng cụ đựng đồ tế lễ, việc di chuyển đồ tế trong lễ Hạ hưởng ngày mồng Một tháng Tư năm Tự Đức thứ 11 (1858) cũng phải phúc trình lên nhà Vua “Bộ Lễ phúc trình: Nay tiếp nhận sắc do Thái giám Dương Uy chuyển truyền: Lần này gặp lễ Hạ hưởng, lễ cúng mùa hạ, Trẫm thân đến Thế miếu làm lễ. Lễ xong, xem ở chính án có bày thờ đôi Bắc hài, án bên trái, án bên phải không thấy bày đặt hạng này. Truyền cho Bộ kiểm tra xem, hoặc các hạng đó đã làm ra mà những người tế ở đền bày đặt ở chỗ nào? Hoặc chưa từng chế biện? Phúc trình đầy đủ. Chúng thần tuân theo chỉ, lập tức sức cho các thuộc viên đến miếu để xem xét thấy các vật bày đặt thờ thần, viên tế tự đã dời đặt trên chiếu hiện đang kiểm điểm số nên không còn ở nguyên chỗ bày đặt ấy. Nhưng hỏi viên Từ tế sứ là Tôn Thất Lệ, lần ấy bày đặt như thế nào, căn cứ lời bẩm theo sách phụng giữ thì phụng thờ ở án chính. Bộ thần đã kiểm tra nguyên những điều khai trong sách, những đôi hài rồng phượng đều đã phù hợp[2]

Lễ Hạ hưởng vào mùa hạ, cũng là mùa hoa quả thơm ngon, bởi vậy lễ vật dâng tiến là các loại quả đặc sản được lựa chọn từ các địa phương trong cả nước: quả vải ở miền Bắc, lòn bon ở Quảng Nam, xoài tượng ở Phú Yên, dưa hấu ở Quảng Bình…với số lượng kê khai cụ thể. Châu bản triều Gia Long, ngày mồng 8 tháng 3 năm Gia Long thứ 4 (1805) cho biết, Bắc thành cung tiến 4200 quả vải, doanh Quảng Nam cung tiến 6600 quả lòn bon “Công Đồng truyền cho Kiêm Hoà hầu bộ Hộ được rõ: về việc trình Khâm sai Tổng trấn Bắc thành Bình Tây Đại tướng quân, xuất quan tiền mua 4200 quả vải để cung tiến cho lễ Hạ Hưởng; Công Đồng truyền cho Công đường quan doanh Quảng Nam được rõ: về việc mua 6600 quả lòn bon để cung tiến cho dịp lễ Hạ Hưởng”[3].

  Năm Minh Mạng thứ nhất (1820), cung tiến quả vải trong lễ Hạ hưởng được quy định là 10 giỏ “Khâm sai Phó tổng trấn Bắc thành tâu: nhân dịp lễ Hạ hưởng, xin chiếu lệ lựa mua 4200 quả vải đựng vào 13 cái giỏ cung tiến. Châu phê: Từ nay về sau hạn định là 10 giỏ. Khâm thử.”[4]

Bản tấu của Khâm sai Phó tổng trấn Bắc thành ngày 24 tháng 3 năm Minh Mạng thứ nhất (1820) về việc cung tiến quả vải dịp lễ Hạ hưởng. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn

                Lễ Hạ hưởng là một trong các lễ tế Đại tự, bởi vậy nghi thức tế lễ phải tuân theo trình tự, âm nhạc, vũ đạo cũng được quy định cụ thể. Âm nhạc được sử dụng trong lễ Đại tự là một bộ nhã nhạc, bao gồm các nhạc khí: trống, đàn, nhị, sênh, khánh, chiêng, tù và, thanh la có kích cỡ khác nhau. Bên cạnh đó, việc bày biện, bố trí nhạc khí thành các dàn trong lễ tế phải đáp ứng yêu cầu về mặt thẩm mỹ, âm hưởng hài hòa và tuân theo nguyên tắc. Về vũ đạo, đối với lễ tế Đại tự, Nam giao, Xã tắc, tế vào dịp Ngũ hưởng ở Thái Miếu, Thế Miếu đều dùng múa bát dật tám hàng. Nếu năm nào có sự thay đổi, thêm bớt lược bỏ đôi câu hát, Bộ Lễ phải dâng tấu trình từ hôm trước “Bộ Lễ tâu: Vâng sắc Ngày mai là ngày lễ Hạ hưởng, truyền cho Bộ đối chiếu với các nghi tiết đã chuẩn định cũ mà châm chước nghĩ như thế nào lập tức làm tờ phiến phúc trình. Bộ thần vâng xét: Những năm trước đã lượng định các nghi thức đại lễ Hạ hưởng, tựu trung trình tự các lễ Nghênh thần (đón Thần), Tống thần (tiễn Thần), Thượng hương (dâng hương), độc chúc (đọc văn tế), Tam hiến (dâng 3 tuần rượu), ẩm phúc (uống rượu cầu phúc) và các việc vào ra, lên xuống, dừng lại, đều đã quy ước chuẩn định. Còn như nguyên chuẩn định tấu chính chương nhạc khúc, trừ 3 chương nhạc khúc: Nghênh thần, Tống thần, Vọng liêu đã thích hợp ra, còn 6 chương còn lại, nên lược bỏ mỗi chương một hai câu cho được thích hợp. Tất cả vâng kê khai ở dưới đây để kịp ngày mai làm lễ. Kê khai ... Châu điểm.”[5]

 

[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 186, tờ số 214

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 85, tờ số 150

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Gia Long, tập 1, tờ số 91

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng, tập 1, tờ số 22

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 23, tờ số 243

Hải Yến