Sự ra đời của Nhượng địa Hải Phòng[1]
Được giao thực thi Hòa ước Giáp Tuất năm 1874, Tổng đốc Hải Dương Phạm Phú Thứ đã cấp cho Pháp khu đất có diện tích 2,5 héc-ta, nhưng phía Pháp yêu cầu được cấp khu đất lớn hơn để có thể san lấp mặt bằng và đắp đường. Sau nhiều vòng thương thuyết, cuối cùng viên Công sứ Pháp đề nghị được cấp khu đất liền rộng 2,5 héc-ta nằm phía trong con đê chạy dọc sông Cửa Cấm đến gần hợp lưu với sông Tam Bạc, cùng khu đất rộng phía trước đê, bị ngập khi thủy triều lên và lộ ra khi thủy triều xuống.
Không lường trước được những toan tính của Pháp, triều đình nhà Nguyễn đã chấp thuận đề nghị này. Nhưng chính trên khu đất ngập nước đó, Pháp chủ trương cho xây dựng các công trình chính của khu nhượng địa, đặc biệt là Tòa Công sứ ngay tại khu vực dòng nước chảy khi thủy triều rút.
Viên đại úy công binh Espitallier được cử đến Hải Phòng vào tháng 11/1875[2] để chỉ huy công trường. Nhân sự giúp việc cho ông ta gồm một kế toán, lính gác, một nhân viên dân sự cùng 12 thợ xây người Nam Kỳ được sử dụng làm đốc công, một thợ rèn người Trung Kỳ. Khi đó, Hải Phòng mới chỉ là ngôi làng không sầm uất về buôn bán nên Espitallier buộc gửi thư đến Tổng đốc đề nghị cấp 150 lính vệ và bay dùng để xây. Riêng đồ mộc được đặt mua từ Sài Gòn do tàu đi từ Sài Gòn ra Hải Phòng chỉ chạy định kỳ hai tháng một lần.
Sơ đồ các công trình xây dựng của nhượng địa Pháp ở Hải Phòng, không đề ngày. Nguồn Humazur
Ngay khi đến Bắc Kỳ, đại úy Espitallier cho khảo sát các bồn địa than đá quanh khu vực Đông Triều, đồng thời ra lệnh thu gom than trên bề mặt để cung cấp cho các lò nung vôi hoạt động liên tục gần công trường. Các ngọn núi gần đó là nguồn đá vôi để xây chân tường - một kỹ thuật mà người Bắc Kỳ chưa áp dụng.

Nhượng địa Hải Phòg năm 1884, nguồn: Tạp chí Tour du Monde năm 1889.
Trong khi Hà Nội nằm trên khu vực khá cao so với mặt nước biển, Hải Phòng ở giữa vùng đất trũng, xen kẽ các ruộng lúa. Chất đất nhiều bùn không cho phép xây nhà nhiều tầng, vì vậy Công binh Pháp rất thận trọng khi xây móng nhà. Nền nhà thường được tôn đắp hơn cao mặt bằng chung từ 2-3 mét. Mỗi tòa nhà được bảo vệ bằng đê đất cao từ 1,5m-2m bao quanh. Các hào cũng được lấp đầy bằng lớp cát mịn dày 2,2m, tải trọng được phân bố đồng đều trên kết cấu móng được san lấp bằng đất thịt. Các tòa nhà đều có hiện tượng lún nhưng không bị nứt, nghiêng: Tòa Lãnh sự sau này là Tòa Công sứ ban đầu bị lún sâu 0,4m nhưng sau đó đã ổn định. Công binh Pháp đã tạo ra một hòn đảo nhân tạo là Nhượng địa rộng 12 héc-ta, được bao quanh bởi một hào nước rộng 40m - nơi nước sông Cửa Cấm chảy vào khi thủy triều lên và được giữ lại nhờ các van. Để các thuyền ghe chở vật liệu dễ dàng cập bờ, một bến tàu ra đời, với các cầu được dựng bằng khung kim loại gửi đến từ Pháp. Những khung này lẽ ra phải được dùng để hoàn thiện các tòa nhà nhưng đã tồn tại ở cảng Hải Phòng cho đến năm 1887.

Toàn cảnh Nhượng địa Hải Phòng năm 1886. Nguồn: Sách của đại úy Louis Kreitmann đã dẫn
Hai mươi tòa nhà các loại tại nhượng địa ở Hải Phòng được Công binh Pháp bàn giao vào tháng 02/1877, sau 18 tháng thi công. Báo cáo đăng trên tạp chí Xây dựng dân sự (Le génie civil) số ra ngày 22/5/1886 cho thấy, các công trình xây dựng tuân thủ đúng ý tưởng của các bản vẽ tổng thể, đồng thời tái hiện đầy đủ các họa tiết trang trí, cho thấy tay nghề khéo léo của viên sĩ quan phụ trách công trình

Sơ đồ Tòa Công sứ trong Nhượng địa Hải Phòng năm 1886. Nguồn: Sách của đại úy Louis Kreitmann đã dẫn

Mặt tiền của Tòa Công sứ trong Nhượng địa Hải Phòng năm 1886. Nguồn: Sách của đại úy Louis Kreitmann đã dẫn
Ngày 26 tháng Tám năm Đồng Khánh thứ ba (01/10/1888), vua Đồng Khánh ban Dụ số 567, được Toàn quyền Đông Dương chuẩn y ngày 03/10/1888 về việc lập các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Đà Nẵng thành nhượng địa của Pháp nhằm cụ thể hóa điều 18 của Hiệp ước Giáp Thân ký ngày 06/6/1884 quy định ranh giới các khu nhượng địa bằng các sơ đồ đính kèm.
Theo Dụ này, ngoài diện tích theo đề nghị của Hội đồng thành phố, nhượng địa Hải Phòng[3] còn bao gồm 10 ngôi làng trù phú, nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách của chính quyền thuộc địa Pháp.
Một số kỹ thuật mới được áp dụng trong xây dựng nhượng địa Pháp ở Hà Nội và Hải Phòng
Tình trạng khó khăn và thiếu thốn nguyên vật liệu ở Hà Nội và Hải Phòng buộc Công binh Pháp thử nghiệm một số sáng kiến, ví dụ như việc đại úy Dupommier cho sản xuất puzolan nhân tạo[4] tại chỗ và đưa vào xây dựng nhượng địa ở Hà Nội bằng cách nghiền gạch để thủy phân vữa. Còn ở Hải Phòng, đại úy Espitallier cho sản xuất vôi béo hay còn gọi là vôi khí[5] nhờ các lò nung hoạt động liên tục được đốt bằng than bản xứ.
Trung úy Bertrand thuộc Trung đoàn Công binh số 4, khi rời Bắc Kỳ vào năm 1886, báo cáo công cụ xây dựng của người Bắc Kỳ còn rất thô sơ. Thợ xây chủ yếu dùng bay và thước. Thợ mộc được trang bị tốt hơn với kéo, bào, đục, cưa lưỡi nhỏ và cưa dài. Dụng cụ phổ biến của người bản xứ là dao rựa. Thợ đào đắp đất sử dụng công cụ khá giống ở Pháp: lưỡi xới hoặc cuốc, xẻng và gàu múc. Thợ sắt dùng kìm và búa, thợ rèn dùng bễ gồm hai ống tre thẳng đứng có độ rỗng lớn, bên trong đặt hai pít tông vận hành bằng thanh gỗ hoặc sắt.
Do điều kiện khí hậu ẩm ướt dễ gây ô xy hóa, các khung sắt được sử dụng tại hai nhượng địa ở Hà Nội và Hải Phòng đều được phủ hai lớp sơn bảo vệ. Vật liệu phổ biến ở Bắc Kỳ chính là gỗ và tre do nguồn cung khá dồi dào. Tre được sử dụng rộng rãi trong dựng nhà, đóng đồ đạc, dựng cầu, làm xô, thang, đòn gánh, cán dụng cụ, tàu, dây, giấy, hàng giậu, cọc… Những bụi tre dày có thể biến thành thành lũy phòng thủ. Người Bắc Kỳ phân biệt tre đực (ruột đặc, dùng trong xây dựng) và tre cái (ruột rỗng, mỏng). Công binh Pháp cũng sử dụng tre trong việc dựng mái tranh tại nhượng địa Pháp ở Hải Phòng.
Ngoài ra còn có một loại tre không dày như tre đực nhưng cũng không mỏng như tre cái, thường được dùng làm máng dẫn nước, làm vật dụng chuyên chở chất lỏng có sức chứa lên đến 8-10 lít. Ở Bắc Kỳ cũng có nhiều thông, nhưng do tính chất gỗ mềm, khí hậu ẩm ướt và dễ bị mối mọt nên chỉ được dùng để thay thế. Ngoài ra còn có gỗ vấp (hay còn gọi là gỗ vắp thuộc họ Mù u), gụ, trắc và tếch - những loại gỗ cứng này rất đặc và nặng, thích hợp với khí hậu ẩm ướt. Để vận chuyển các loại gỗ này từ thượng nguồn sông Hồng, Công binh Pháp phải đóng các bè lớn. Mặc dù Bắc Kỳ giàu tài nguyên quặng sắt, người bản xứ vẫn chưa biết khai thác và đây được xem là tiềm năng khai thác thuộc địa cho nước Pháp. Một số khu vực thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng và khu vực trải dài từ vịnh Hạ Long cho đến Bắc Lệ có rất nhiều đá vôi, người bản xứ đã khai thác để phục vụ xây dựng, khắp nơi có thể thấy nhiều lò nung vôi chỉ cao chừng 1m, bị bỏ hoang do xây dựng cẩu thả.
Bertrand nhận thấy vữa xây dựng của người bản xứ có chất lượng rất tốt: họ làm ra sản phẩm gần giống xi măng khi dùng cát, vôi, đường và giấy nhào trộn với một loại nhựa, dùng để trát bể, bồn chứa nước trong nhà dân. Nhà của tầng lớp giàu có thường sử dụng vữa trộn với bụi đá cẩm thạch, giúp bề mặt khô nhanh, bền và có tính thẩm mỹ cao.
Ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, đá ít được dùng trong xây dựng nhà ở, mà phổ biến là dùng gạch. Đất sét tập trung nhiều ở quanh khu vực Sơn Tây và Bát Tràng - chuyên sản xuất gạch lát và đồ gốm chất lượng tốt. Ngói phẳng không có mấu thường dùng để lợp mái chùa hoặc nhà xây theo phong cách châu Âu hay Trung Hoa. Người bản xứ không sử dụng loại ngói này vì khung nhà làm bằng tre không chịu được sức nặng của ngói, do đó, các xưởng ngói chỉ sản xuất ngói phẳng theo mẫu do người Pháp đặt hàng. Do đường đất ở Bắc Kỳ rộng và dốc, không thích hợp cho xe vận tải nên với các đoạn đường ngắn, Công binh Pháp sử dụng xe cút kít của người bản xứ - vốn được họ sử dụng rất thành thạo ngay cả khi chở đồ nặng và cồng kềnh. Phương thức vận chuyển lâu đời và phổ biến là dùng gùi và gánh. Ngựa Bắc Kỳ nhỏ, chắc chắn nhưng không phù hợp để thồ nặng hoặc kéo, thay vào đó, Công binh Pháp sử dụng trâu - vốn khá phổ biến trong nông nghiệp lúa nước của Bắc Kỳ vào vận chuyển trên các công trường cũng như trong vận tải quân nhu. Do hệ thống sông ngòi chằng chịt trong khi chất lượng đường bộ không đảm bảo, Công binh Pháp ưu tiên ghe thuyền của người bản xứ để vận chuyển nguyên vật liệu tới công trình bằng đường sông.
Đúng như mục đích và ý tưởng đưa ra cho Công binh Pháp khi xây dựng các cơ quan thường trực của Pháp ở Bắc Kỳ, các công trình kiên cố tại nhượng địa Hà Nội và Hải Phòng sau khi hoàn thiện cho thấy quyết tâm hiện diện lâu dài của Pháp ở đây, đồng thời thể hiện cho người bản xứ thấy được sự khác biệt của họ trong nghệ thuật trang trí.
[1] Theo "Công binh Pháp ở Bắc Kỳ dưới chính quyền Hải Quân" (Le Service du génie au Tonkin sous l'administration de la Marine) của đại úy Louis Kreitmann, Paris, 1889
[2] Tháng 02/1877, đại úy Dupommier về Pháp và đại úy Espitallier thay ông ta kiêm chỉ huy việc xây dựng nhượng địa ở Hà Nội. Không chỉ chỉ huy công trình tại nhượng địa Pháp ở Hải Phòng, Espitallier còn là cha đẻ của hải đăng Hòn Dấu và tác giả bản vẽ hải đồn trên đảo Cát Bà cho chính quyền nhà Nguyễn.
[3] Theo "Tập san Hội Địa lý Toulouse”, số ra tháng 8/1889 (Bulletin de la Société de Géographie de Toulouse. 8/1889), từ trang 133-136.
[4] Puzolan là một loại vật liệu dùng trong ngành xây dựng. Loại vật liệu này đã được người Ý sử dụng từ thời kỳ La Mã cổ đại, đặc biệt tại vùng Pozzuoli và tên gọi của nó được đặt theo địa danh này. Puzolan là vật liệu mà khi kết hợp với calci hydroxit sẽ tạo thành hợp chất có tính chất xi măng. Puzolan thường được sử dụng như một vật liệu bổ sung (thuật ngữ kỹ thuật trong tiếng Anh là "concrete extender") cho xi măng Portland để tăng độ bền lâu dài và tăng cường các đặc tính vật liệu khác của bê tông xi măng Portland, và trong một số trường hợp, giảm giá thành bê tông.
[5] Tiếng Pháp là "chaux grasse": vôi béo hay còn gọi là vôi khí là chất kết dính tự nhiên và thân thiện với môi trường, được sử dụng trong xây dựng và trang trí. Nguyên liệu này được sản xuất bằng cách nung đá vôi nguyên chất và có quá trình đông cứng chậm, được thực hiện bằng cách cacbonat hóa khi tiếp xúc với không khí. Nó đặc biệt được đánh giá cao vì khả năng điều hòa độ ẩm và làm sạch không khí nhờ đặc tính diệt khuẩn và chống nấm mốc.
Ngọc Nhàn