11:54 PM 19/03/2026  | 

Đập Đáy được thiết kế và xây dựng trong những năm 1934-1937, là kết quả của quá trình nghiên cứu, lựa chọn phương án và thi công của người Pháp nhằm phân lũ sông Hồng để bảo vệ khu vực Hà Nội và các tỉnh hạ du; chống úng, chống lũ cho các vùng ven sông Đáy.

Toàn cảnh công trường Đập Đáy nhìn từ tả ngạn năm 1935, nguồn: TTLTQGI

Vai trò và yêu cầu xây dựng Đập Đáy

Sau các trận lũ lớn gây hậu quả nghiêm trọng vào các năm 1893, 1915, Đập Đáy được người Pháp cho tiến hành nghiên cứu nhằm giải quyết vấn đề lũ lụt tại Bắc Kỳ.

Trong tờ trình ngày 31/5/1932, ông Auphille, Kỹ sư chính - Chánh Sở Thủy nông khẳng định: Việc xây dựng một con đập trên sông Đáy là cần thiết nhằm phục vụ công tác trị thủy tại các vùng ven sông”[1].

Lựa chọn vị trí xây dựng

Ban đầu, vị trí xây dựng Đập Đáy được đề xuất tại Triều Xuyên[2]. Tuy nhiên, sau khi xem xét, ông Lemai, Tổng Thanh tra Công chính Đông Dương cho rằng vị trí này không phù hợp do đoạn nối với sông Hồng quá ngắn, không đủ điều kiện hình thành “phễu” dẫn nước qua đập.

Sau nhiều cuộc thăm dò địa chất được tiến hành tại nhiều khu vực dọc sông Đáy từ năm 1929 đến 1931[3], cuối cùng công trình phân lũ Đập Đáy được chọn đặt tại vị trí hạ lưu cầu sông Đáy, trên tuyến đường Hà Nội - Sơn Tây, cách cây cầu 500m. Đây là vị trí được đánh giá bảo đảm tốt nhất cả về địa chất lẫn yêu cầu kỹ thuật điều tiết lũ.

Lựa chọn phương án kỹ thuật

Đập Đáy là một công trình quy mô lớn, xây dựng trên nền cát, đặt ra nhiều thách thức kỹ thuật. Vì vậy, nhà chức trách đã quyết định tổ chức mời thầu rộng rãi để lựa chọn phương án tối ưu và kinh tế nhất. Ngày 01/8/1933, Hội đồng xét duyệt đã tiếp nhận 33 phương án do 8 nhà thầu đề xuất[4].

Sau hơn một năm nghiên cứu, Hội đồng thống nhất lựa chọn phương án của Công ty Trưng thầu Nạo vét và Công trình công cộng của Pháp (SFEDTP). Về móng, Hội đồng quyết định áp dụng nguyên tắc móng nông, phù hợp với nền cát mịn dày tại khu vực xây dựng.

Về cơ chế đóng mở, nhiều giải pháp được đưa ra như phay nhỏ, cửa van hình cánh cung, cửa van đơn, cửa van kép và cửa van kiểu mái nhà. Để có cơ sở lựa chọn, ông Bigorgne, Kỹ sư chính - Chánh Sở Công chính Bắc Kỳ đã trực tiếp khảo sát các đập tương tự tại Pháp. Trong báo cáo ngày 07/11/1933, ông cho rằng xét về tính đơn giản, an toàn trong vận hành và ổn định tổng thể, phương án cửa van kiểu mái nhà là phù hợp nhất. Kết luận này được Hội đồng chấp thuận trong báo cáo ngày 14/4/1934[5].

Quy mô và kết cấu công trình

Theo đồ án D của Nhà thầu SFEDTP được duyệt ngày 23/6/1934, cửa van đập được xây dựng theo kiểu mái nhà. Đập gồm 7 cửa, mỗi cửa rộng 33m75, ngăn cách bởi 6 trụ pin, mỗi trụ pin rộng 3m. Công trình được xây trên tầng cát mịn dày, với hệ thống móng, ván cừ bằng bê tông cốt thép…

Tổng khối lượng xây dựng rất lớn, bao gồm hơn 31.000m³ bê tông, gần 3.000m³ móng đá ngầm và khoảng 2.000 tấn thép[6].

Hình ảnh bốc xếp đá xây lên các thuyền tam bản và goòng tại Hiệp Thuận năm 1935, nguồn: TTLTQGI

Quá trình thi công và hoàn thành

Công tác thi công được tiến hành trong ba mùa khô liên tiếp từ 1934 đến 1937. Ở phía tả ngạn sông Đáy, các hạng mục phụ trợ như khu văn phòng, kho, xưởng được khởi công từ tháng 7/1934 và hoàn thành vào ngày 06/10/1934, trong khi công việc đào đắp chính thức bắt đầu vào cuối tháng 10 cùng năm.

Công trường khai thác lớp trát nền tại Đập Đáy năm 1935, nguồn: TTLTQGI

Toàn bộ công trình hoàn thành vào ngày 21/3/1937, sớm hơn hai tháng so với kế hoạch. Tổng giá thành công trình là 1.644.719 đồng bạc Đông Dương (1937), chưa kể các khoản chi bổ sung cho đê quai và bảo vệ khu vực xung quanh[7].

Quang cảnh công trường hàn ván cừ kim loại tại Đập Đáy năm 1935, nguồn: TTLTQGI

Vận hành, sửa chữa và nâng cấp

Đập Đáy đã được mở 5 lần trong các mùa lũ các năm 1940, 1941, 1942, 1945 và 1947 song việc thao tác đóng, mở Đập còn nhiều bất cập. Sau các trận lũ lớn, công trình được sửa chữa trong mùa khô 1949-1950.

Đầu năm 1950, theo yêu cầu của Nha Công chính Bắc Việt, Công ty Nghiên cứu xây dựng các công trình đặc biệt của Pháp (SECS) được mời nghiên cứu các biện pháp hoàn thiện cơ chế vận hành, tăng cường độ cứng của các cửa van phía hạ lưu thuộc hệ thống cửa van kiểu mái nhà và hiện đại hóa các thiết bị bịt kín khe hở. Ngày 07/8/1951, một hợp đồng mới được ký với nhà thầu Nhà thầu SFEDTP (đại diện cho Công ty SECS) nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả và độ an toàn của công trình[8].

Đập Đáy là một công trình thủy lợi tiêu biểu, phản ánh trình độ kỹ thuật và tư duy trị thủy thời kỳ Pháp thuộc. Không chỉ giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết lũ sông Hồng, công trình còn để lại dấu ấn đáng kể trong lịch sử xây dựng và quản lý thủy lợi ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

 

 

 

[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 341, hồ sơ 5.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 340, hồ sơ 2.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 340, hồ sơ 2.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 341, hồ sơ 7

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 351, hồ sơ 15

[6] https://www.archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/he-thong-thuy-nong-%E2%80%93-moi-quan-tam-hang-dau-cua-nguoi-phap-tai-bac-ky.htm

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 357, hồ sơ 24

[8] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Thủy lợi hộp 364, hồ sơ 42

Hoàng Hằng