01:29 PM 17/06/2026  | 

Cuối thế kỷ XIX, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên của Trung Kỳ sản xuất loại chè thường được gọi là "Trà Huế", rất được người bản xứ ưa dùng. Trong số các chủ đồn điền người Âu từng sống ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, hai người Pháp Lombard và Leroy thực sự ấn tượng bởi sự trù phú của một số vùng đất miền Trung. Họ nhận thấy thổ nhưỡng và điều kiện khí hậu ở đây khá phù hợp cho việc trồng chè, nếu được canh tác và chế biến hợp lý, loại cây này có khả năng tạo ra sản phẩm phục vụ xuất khẩu, góp phần mang lại nguồn thu cho thuộc địa .

Sự phát triển ban đầu của cây chè Phú Thượng

Những năm 1890, các đồn điền trồng chè ở Bắc Kỳ được biết đến nhiều nhất là Trang trại Chè Lục Nam[1] và đồn điền của Đề Kiều ven sông Hồng thuộc tỉnh Hưng Hóa. Còn tại Trung Kỳ, chúng tập trung chủ yếu ở Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, nhưng quan trọng nhất là đồn điền chè ở Phú Thượng của tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng chừng 18km.

Cây chè được du nhập, trồng và thuần dưỡng ở Trung Kỳ vào khoảng những năm 1770-1780, đầu tiên là ở Phú Thượng, nhưng qua nhiều năm, người dân vẫn trồng, thu hoạch và chế biến chè theo phương pháp khá thô sơ.

Năm 1884, nhà truyền giáo người Pháp Jean Maillard[2] đến Phú Thượng và ngay sau đó nhận thấy, nếu trồng chè đúng hướng, loại cây này sẽ góp phần mang lại sự giàu có cho vùng đất này, nên đã dùng ảnh hưởng của mình để khuyến khích người dân bản xứ trồng loại cây này. Nhưng phải vài năm sau sự kiện Văn Thân năm 1885, loại cây này mới được trồng và phát triển thành công ở đây. Chính tại Phú Thượng, những vườn chè đầu tiên đã ra đời, tiếp sau là ở các vùng lân cận như: mỏm đất Tùng Sơn, Kiền Kiền, Phú Hạ.... Một đồn điền chè trải dài trên 12km với diện tích 250 héc-ta ra đời, quy tụ hơn hai triệu gốc chè đang phát triển.

Linh mục Jean Maillard. Nguồn: Viện Nghiên cứu Pháp - Á (IRFA)

Tuy diện tích trồng tăng nhanh nhưng chè vẫn chưa trở thành sản phẩm đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu, chủ yếu phục vụ nhu cầu nội địa. Sau khi thu hoạch cả lá lẫn búp, người dân chặt hết cành, chỉ để lại những thân chè trơ trụi. Lá và búp chè tươi vừa thu hoạch được bán ngay cho thương lái, không qua bất kỳ công đoạn sơ chế nào. Sau đó, những thương lái này bán lẻ chè cho các chợ trong tỉnh, trong đó có chợ lớn Túy Loan cách Đà Nẵng chừng 12km. Một số người dân bắt đầu biết sơ chế búp chè nhưng vẫn theo phương pháp khá thô sơ: làm khô, vò bằng tay, sau đó phơi khô dưới nắng.

Một mẫu chè Phú Thượng được sơ chế thô sơ đã được gửi cho bác sĩ - Giám đốc Bệnh viện Hà Nội để đánh giá thành phần. Dược sĩ hạng nhì Speder được giao tiến hành các xét nghiệm, phân tích đầu tiên và trong báo cáo gửi cho cấp trên đề ngày 24/3/1894, ông ta cho biết các bệnh nhân, sĩ quan, binh lính cũng như nhân viên Bệnh viện Hà Nội đánh giá chè Trung Kỳ được gửi tới có chất lượng tốt và ngon hơn so với loại chè đang được sử dụng tại đây. Theo viên dược sĩ, loại chè này tốt về mọi mặt cảm quan, có hương vị giống với loại chè thượng hạng Tiểu Chủng nổi tiếng của Trung Hoa nhưng ông cũng đưa ra gợi ý cần sử dụng kỹ thuật rang sao hợp lý để giữ được hương vị của chè.

Canh tác và chế biến đúng để có chè xuất khẩu

Dựa trên những đánh giá đó, giữa năm 1894, theo đề nghị của Toàn quyền Đông Dương, linh mục Maillard và chủ đồn điền Leroy được giao nhiệm vụ sang Trung Hoa, sau đó đến Sri Lanka và đảo Java để nghiên cứu kỹ thuật trồng và chế biến chè. Cuối năm 1894, Lombard và Leroy thành lập Công ty Lombard với mục tiêu khai thác các đồn điền chè đang có và lập thêm các đồn điền mới.

Ưu tiên hàng đầu của công ty là mua một số vườn chè để thí nghiệm kỹ thuật trồng, tỉa cành hợp lý nhằm tạo nhiều nhánh và giúp cây phát triển rậm rạp. Người bản xứ không có thói quen tỉa cành dẫn đến việc cây chè bị chết. Bên cạnh đó, công ty còn thuê đất của một số điền chủ để tiến hành các phương pháp tỉa cành khác nhau, tổng cộng có tới 600.000 gốc chè được thuê theo diện lâu dài. Công ty đã bắt đầu trồng chè, cà phê và ca cao trên những mảnh vườn mua lại của người bản xứ. Những cây trồng được cắt tỉa thành dạng bụi, không có ngọn vươn quá cao ( từ 1-1,2m) và hàng năm đều được tỉa lại.

Công ty dựng một nhà máy tạm thời để tiến hành các thử nghiệm đầu tiên, một số máy móc được chuyển đến từ Sri Lanka, trong đó có các con lăn cơ khí. Giữa năm 1895, một công nhân chế biến chè được người Ấn Độ ở Sri Lanka được thuê về làm việc trong nhà máy.

Bản vẽ thiết kế máy rang sấy chè hiệu Sirocco được mua về sử dụng trong chế biến chè ở Phú Thượng. Nguồn: TC10, phông Tư liệu, TTLTQGI

Bản vẽ máy phân loại chè. Nguồn: TC10, phông Tư liệu, TTLTQGI

Tiếp theo, công ty đã gửi các mẫu phẩm đi xét nghiệm: đầu tiên ở Thụy Sĩ, sau đó là Paris và cuối cùng là Marseille để đánh giá chất lượng chè Phú Thượng.

Kết quả xét nghiệm đề ngày 03/5/1895 của Phòng thí nghiệm Giám sát đồ uống và thực phẩm của Hạt Vaud (Thụy Sĩ) cho thấy, chè Phú Thượng chứa 3,22% là théine, cao hơn mức trung bình của chè Trung Hoa và là sản phẩm có chất lượng tốt. Theo kết quả phân tích của Phòng thí nghiệm Hóa học thành phố Paris đề ngày 27/6/1895, hàm lượng théine là 3,92%, còn kết quả của phòng thí nghiệm ở Marseille cho thấy hàm lượng théine thô là 5,74%[3].

Trong năm 1896, Công ty Lombard cho lập rất nhiều vườn ươm giống chè được đưa về từ Trung Kỳ, Sri Lanka và Trung Hoa, cùng với các vườn ươm giống cây cà phê được đưa về từ Sri Lanka, Ấn Độ và Phong Lê của Bắc Kỳ (đồn điền của Pongerville nằm gần Đà Nẵng) và từ Phú Thượng.

Cuối năm 1896, công ty này chính thức cho xây dựng một nhà máy ở Phú Thượng, vật liệu gạch, đá chuyển về từ Đà Nẵng, mái lợp tôn và công trình được hoàn thiện vào đầu năm 1897. Nhà máy này có 3 dãy nhà trải dài trên 88m, gồm phòng cân chè sau khi vừa thu hoạch từ các vườn, phòng sấy khô được trang bị các giá phơi chè và cuối cùng là phòng lớn - nơi tiến hành các khâu chế biến.

Từ tháng 5/1896, việc khai khẩn khu nhượng địa được bắt đầu và đến mùa thu, những cây chè và cà phê từ các vườn ươm được đưa đến trồng. Sau đó, chúng được tỉa cành để phát triển theo kế hoạch. Lá chè non đáp ứng điều kiện để tiêu thụ cũng như xuất khẩu được các công nhân người bản xứ hái cẩn thận để tránh làm ảnh hưởng đến búp, sau đó bỏ vào giỏ tre đeo trên vai.

Những lá chè đủ tiêu chuẩn được thu hoạch, mang về nhà máy, cân và rải trên các giá phơi khô trong thời gian từ 20-30 giờ tùy theo điều kiện thời tiết. Tiếp theo là các công đoạn: vò chè, lên men, phơi hoặc sấy khô. Công ty Lombard chủ trương sản xuất chè không thêm phụ gia hương liệu, giống như các sản phẩm chè của Sri Lanka và Java.

Quy chuẩn chiều cao đối với cây chè trong đồn điền là từ 1-1,2m. Các gốc chè được trồng thành hàng với khoảng cách là 0,9m, mỗi cây chè cho năng suất trung bình khoảng 65g, tương đương với năng suất của các cây chè được trồng ở Ấn Độ cũng như trên đảo Java.

Bản báo cáo của Le Myre de Vilers kết luận rằng Trung Kỳ là vùng đất có nhiều triển vọng đối với việc trồng chè. Mặc dù độ phì nhiêu của đất đai chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhưng điều kiện thời tiết không quá lạnh như ở Bắc Kỳ được xem là một lợi thế đáng kể. Cây chè thích hợp với những vùng đất mấp mô hoặc đồi gò nhấp nhô, và đặc biệt cần được trồng ở những khu vực có độ cao nhất định. Đất ở các thung lũng không thích hợp cho việc trồng chè, khí hậu nóng nhưng không quá khô. Đất trồng phải dễ ngấm nước, chứa thành phần sắt pha đá phiến. Trung Kỳ có những vùng đất hội tụ đủ các yếu tố thuận lợi trên, nếu kết hợp với phương pháp canh tác hợp lý, có thể cung cấp loại chè đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Hoa và Ấn Độ.

 

 

[1]. Tên tiếng Pháp là La Ferme des thés du Lucnam.

[2]. Jean-Donat Maillard, linh mục truyền giáo người Pháp nổi tiếng thuộc Hội Thừa sai Hải ngoại Paris (MEP), thường được biết đến tại địa phương với tên gọi tiếng Việt là Cố Thiên. Sau khi thụ phong linh mục tại Pháp năm 1876 trước khi gia nhập Hội Thừa sai Hải ngoại Paris vào năm 1881, ông được cử sang Đông Dương (thuộc giáo phận Đông Đàng Trong) vào ngày 12/4/1882. Năm 1884, ông được bổ nhiệm làm chánh xứ, đến định cư tại giáo xứ Phú Thượng (thuộc Hòa Vang, giáp ranh với địa danh  lịch sử Phú Hạ).

[3]. Theo đề nghị của Lombard và Leroy về việc trở thành nhà cung cấp nhu yếu phẩm cho các đơn vị quân đội và bệnh viện ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer yêu cầu họ gửi các mẫu phẩm đến Bệnh viện Sài Gòn để phân tích và so sánh với các mặt hàng cùng loại do các Hoa kiều cung cấp. Kết quả phân tích cho thấy chất lượng sản phẩm rất tốt. Trong chuyến kinh lý Bắc Kỳ vào tháng 5/1897, khi dừng chân tại Đà Nẵng, Doumer đã gặp các nhân viên và chủ đồn điền ở đây, đồng thời bày tỏ sự hài lòng về chất lượng chè Phú Thượng, cho rằng loại chè này vượt trội so với sản phẩm đang được sử dụng. Ngay khi tới Bắc Kỳ, ông ta đồng ý cho Công ty Lombard cung cấp nhu yếu phẩm cho quân đội Pháp và các bệnh viện ở Đông Dương.

 

Ngọc Nhàn