10:20 PM 06/05/2026  | 

Sau khi được trả tự do và trở về Pháp, ngày 15/10/1954, tướng De Castries trình bản báo cáo dài 39 trang tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ, kể từ thời điểm được bổ nhiệm làm Binh đoàn trưởng Binh đoàn tác chiến Tây Bắc đến khi Điện Biên Phủ thất thủ hoàn toàn. Bản báo cáo này nằm trong hồ sơ tài liệu lưu trữ cá nhân của tướng Henri Navarre thuộc Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

 

Bên trái: Đại tá De Castries, Binh đoàn trưởng Binh đoàn tác chiến Tây Bắc trong hầm chỉ huy ở ĐBP ngày 13/3/1954. Bên phải: Ngày 04/9/1954, tướng De Castries được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trả tự do, sau khi quá cảnh ở Hà Nội đã đến sân bay Tân Sơn Nhất để hồi hương. Nguồn Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

 

De Castries và Điện Biên Phủ 

Ngày 07/12/1953, đại tá De Castries chính thức nắm quyền chỉ huy Binh đoàn tác chiến Tây Bắc - tên chính thức của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (Groupement opérationnel du Nord-Ouest - G.O.N.O). Khi đó, ở Điện Biên Phủ (ĐBP) chủ yếu có 6 tiểu đoàn lính dù của Binh đoàn không vận số 1 và 2 (G.A.P 1 và G.A.P 2), được chi viện thêm tiểu đoàn lính Thái số 3 (B.T.3) và hỏa lực gồm 2 dàn pháo 75 ly không giật của Trung đoàn pháo binh dù hạng nhẹ số 35, 2 dàn pháo 105 HM2 của quân đội Lào (thân Pháp) và 6 khẩu 120 ly của của đại đội súng cối hỗn hợp. Vào thời điểm đó, hệ thống phòng ngự chỉ tập trung chiếm đóng các ngọn đồi ở bờ đông của sông Nậm Rốm.

Sơ đồ bố trí phòng thủ của ĐBP trước chiến dịch. Nguồn: Hồ sơ 1K342, hộp số 1, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

Chỉ ít ngày sau khi nhậm chức, Binh đoàn tác chiến Tây Bắc ở ĐBP đã hứng chịu những đợt tấn công dạo đầu của Việt Minh (VM). Từ ngày 26-30/01/1954, VM tiến hành các cuộc tấn công ban đêm nhằm vào các trung tâm đề kháng ở mạn đông. Tuy nhiên, trong các đợt thám sát đến vị trí xa nhất của lòng chảo, quân Pháp không phát hiện ra sự hiện diện của bộ đội VM. Ngày 31/01/1954, những dấu hiệu đầu tiên của pháo binh VM xuất hiện, nhằm vào các khẩu pháo 75 ly của hai trung tâm đề kháng Eliane và Dominique.

Tiếp đến, những lính dù đầu tiên thuộc 3 tiểu đoàn được Binh đoàn không vận số 2 khi tiếp đất ở đông bắc Độc Lập (Gabrielle) đã vấp phải các loạt đạn của Việt Minh và đến cuối ngày 01/02, các đợt thả dù của binh đoàn này mới hoàn thành theo mục tiêu đã định.

Từ ngày 02-05/02, VM liên tiếp tấn công vào ĐBP bằng các đợt pháo, máy bay trinh sát của Không quân Pháp phát hiện các khẩu pháo phòng không của VM được triển khai tại các vị trí từ mỏm đông cho tới tận trung tâm đề kháng Hồng Cúm (Isabelle).

Từ ngày 06/02-03/3, VM siết chặt vòng vây các mỏm đông và đông bắc của lòng chảo. Ngày 06/2, không quân Pháp phát hiện VM triển khai đóng quân trên các mỏm bắc và đông bắc trung tâm đề kháng Độc Lập, đặc biệt tại cao điểm 561. Sau khi Binh đoàn không vận số 2 được lệnh thả 3 tiểu đoàn trong ngày 15 và 16/2 xuống các vị trí này, các trận đánh giáp lá cà đã diễn ra và VM tạm rút lui.

Từ ngày 04/3-13/3, VM tiếp tục triển khai tấn công, dần siết chặt vòng vây quanh Điện Biên Phủ. Ngày 04/3, tiểu đoàn 5, Trung đoàn lính bộ binh Angiêri số 7 (5/7è R.T.A) phát hiện các đường hào ở cao điểm 633 bắc Độc Lập. Ngày 05/3, tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 (1er B.E.P) không thể áp sát cao điểm 781 ở đông bắc lòng chảo, nơi có các đơn vị VM đóng quân. Những đợt pháo kích của VM nhắm vào sân bay ĐBP đã gây thiệt hại cho không quân Pháp: ngày 11/3 phá hủy 1 máy bay C.119, ngày 12/3: 1 chiếc Morane và nhiều thiết bị trong ngày 13/3. 

Những trận đánh mở đầu 56 ngày địa ngục của quân Pháp ở ĐBP

Theo báo cáo của De Castries, tình hình quân Pháp ở ĐBP không tốt vào thời điểm diễn ra chiến dịch ĐBP. Ngày 13/3, tâm lý mệt mỏi đã xuất hiện trong quân Pháp đồn trú ở đây. Do thiếu vật liệu và nhân công, việc tổ chức sân bay được tiến hành rất khó khăn và chậm trễ, thêm vào đó, quân đồn trú chịu thiệt hại đáng kể trong các đợt trinh sát và không vận. Hầu hết quân số của các tiểu đoàn đều ở dưới mức cho phép về lý thuyết, khiến quân đồn trú trở nên rệu rã.

Ngày 13/3, khi VM mở màn tấn công Him Lam (Béatrice), trung tâm đề kháng này chỉ có một tiểu đoàn gồm 500 quân, trong tình trạng tinh thần khá mệt mỏi sau 3 ngày giao tranh. De Castries lập luận, vào thời điểm đó, việc luân chuyển một số đơn vị là rất cần thiết và nằm trong dự kiến. Thêm vào đó, do tin vào tính bất khả xâm phạm của ĐBP nên một số chỉ huy quân đội Pháp cho rằng VM sẽ không phát động một cuộc tấn công tổng lực, bất chấp những gì diễn ra trong những ngày trước đó. Và ngày 13/3 đã mở đầu cho những bất ngờ kinh hoàng của quân Pháp ở ĐBP. 17 giờ 10, những loạt pháo dữ dội của VM bắt đầu và tiếp diễn trong 55 ngày sau đó với nhiều hình thức khác nhau, một phần tùy thuộc vào diễn tiến chiến thuật của VM, một phần do tiềm lực của quân Pháp suy giảm.

Từ ngày 13-15/03, hai trung đoàn của VM tấn công tổng lực khu ngoại vi tập đoàn cứ điểm ĐBP, bắt đầu bằng hai trung tâm đề kháng Him Lam và Độc Lập. Sau khi hứng chịu các loạt đạn pháo thăm dò bắt đầu lúc 17 giờ 10, pháo của VM đặc biệt nhắm vào khu trung tâm đề kháng và hầm chỉ huy. Từ 18 giờ 30, tình hình của trung tâm đề kháng trở nên rối loạn khi tiểu đoàn trưởng và tiểu đoàn phó chết tại chỗ do trúng đạn pháo xuyên qua cửa quan sát của hầm chỉ huy. Đến 20 giờ, các thiệt hại tương tự diễn ra tại hầm chỉ huy của Binh đoàn cơ động số 9. Kể từ thời điểm đó, các điểm yểm trợ hoạt động đơn lẻ, hai điểm yểm trợ đông bắc và tây bắc lần lượt thất thủ vào lúc 20 giờ 30 và 20 giờ 40 trước các đợt tấn công tăng cường của VM. Đến 23 giờ, VM mở đợt tấn công trở lại điểm yểm trợ trung tâm và vị trí này cùng chung số phận với hai vị trí khác lúc 0 giờ 15 và đến 1 giờ sáng, làm chủ hoàn toàn trung tâm đề kháng này. Him Lam nhanh chóng thất thủ,  đồng thời do thiếu thông tin tình báo về trận địa pháo của đối phương, quân Pháp đã không thể tổ chức phản công, quân số hai tiểu đoàn dự bị của Binh đoàn không vận số 2 cũng không đủ đáp ứng.

Đêm 14 rạng ngày 15/3, Độc Lập chung số phận với Him Lam trước đợt tấn công tiếp theo của VM với cách thức tương tự. Sau loạt pháo thăm dò lúc 18 giờ 10, cuộc tấn công chính thức bắt đầu lúc 20 giờ. Sau các loạt pháo chống trả của pháo binh Pháp lúc 22 giờ, đến 3 giờ 30, VM chiếm được mạn đông bắc của trung tâm đề kháng. Đến 4 giờ 30, tiểu đoàn trưởng bị thương, dù cố gắng cầm cự và phản công yếu ớt, đến 7 giờ sáng, trung tâm đề kháng này thất thủ. Thêm vào đó, tính đến sáng ngày 15/3, dự trữ đạn 105 ly chỉ còn 14.000 viên, 120 ly còn 10.000 viên và 155 ly còn 1.400 viên. Dù nỗ lực thả dù tiếp tế, cơ số đạn không thể khôi phục như ban đầu, điều này ảnh hưởng lớn đến kết cục sau này của chiến dịch: 6 khẩu 105 ly và 8 trung đội pháo binh bị loại khỏi vòng chiến đấu. Tiểu đoàn dù Việt Nam số 5 (5ème B.P.V.N) được thả dù chi viện trong ngày 14/3 không đủ lấp đầy thiếu hụt quân số, trong khi pháo binh VM không ngừng tấn công và họ đã thành công. Từ ngày 15/3, tinh thần rệu rã bắt đầu xuất hiện và lan nhanh trong quân lính của Tiểu đoàn lính Thái số 3.

Ngày 16/03/1954, Tiểu đoàn lính dù thuộc địa số 6 được thả xuống ĐBP nhằm cứu vãn tình thế nguy cấp của tập đoàn cứ điểm. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

Việc mất Him Lam và Độc Lập đã khiến mạn bắc và đông bắc của tập đoàn cứ điểm không còn được yểm trợ, tạo điều kiện cho VM áp sát pháo binh và pháo phòng không. Họ áp dụng chiến thuật mới, từng bước tổ chức thế trận. Từ những vị trí đã chiếm địa được và tổ chức lại ở rìa lòng chảo, VM dần siết chặt vòng vây trước khi tung ra các đợt tấn công, đào các đường hào áp sát hàng rào dây thép gai của quân Pháp, thậm chí ở một số nơi đã tiến vào bên trong hàng rào thép gai đầu tiên, bắt đầu triển khai hỏa lực gần các điểm yểm trợ. 

Từ ngày 15-30/3, VM triển khai bao vây tập đoàn cứ điểm, bố trí tấn công ở mạn đông. Trong các đêm 16 và 17/3, ba đại đội thuộc tiểu đoàn lính Thái đóng giữ các điểm yểm trợ phía bắc số 1 và 2 của trung tâm đề kháng Bản Kéo (Anne-Marie), nằm ở bắc đường băng hạ cánh, đã đào ng. Toàn bộ vũ khí, khí tài của các đơn vị này rơi vào tay VM. Ngày 18/3, ba trung tâm đề kháng yểm trợ cho đường băng hạ cánh cũng rơi vào tay bộ đội VM, giúp họ có ưu thế quan sát sân bay và 4 trung tâm đề kháng trung tâm (Dominique, Eliane, Huguette và Claudine). Kể từ thời điểm này, số phận của tập đoàn cứ điểm gần như đã được định đoạt, trừ khi có sự can thiệp của hàng loạt máy bay ném bom hạng nặng và hạng trung của Mỹ như dự kiến của tướng lĩnh Pháp trước đó. Trong các ngày từ 25-27/3, VM triển khai súng tự động 20 ly và 12,7 ly cùng nhiều vũ khí bộ binh, trong đó có pháo phòng không ở rìa Bản Ban và Bản Nong Pet [Noong Pết], cách vị trí đóng quân của quân Pháp chừng 1.500m. Cuối buổi chiều 30/4, các trận đánh quyết định bắt đầu, nhằm giành quyền chiếm giữ các cao điểm ở bờ đông sông Nậm Rốm.

Từ ngày 30/3-05/4, VM áp dụng thành công chiến thuật mới, tận dụng tối đa hệ thống trận địa, chọc thủng các hàng rào dây thép gai và tiến sâu vào bên trong các điểm yểm trợ trước khi sử dụng pháo binh. Các đợt pháo thăm dò của VM bắt đầu vào 18 giờ 25 ngày 30/3, cày xới Dominique và Eliane, đồng thời nhắm vào các dàn pháo của Hồng Cúm, khu hầm chỉ huy và pháo binh của ĐBP. Đến 18 giờ 45, VM bắt đầu bắn phá dữ dội vào bốn điểm yểm trợ trên các đỉnh đồi ở mạn đông, rồi tiếp tục mở các đợt xung kích thọc sâu qua hàng rào dây thép gai. Từ 19 giờ 25, VM chiếm được C1 (Eliane 1) và đồi E (Dominique 1), tấn công đồi A1 (Eliane 2). Đến 20 giờ, họ chiếm được D1 (Dominique 2). Trong ngày 31/3, giao tranh trong thế giằng co chủ yếu diễn ra tại hai điểm yểm trợ cho D1 và C1 khi quân Pháp triển khai phản công hòng tái chiếm. Trong đêm 01/4-02/4, VM gây sức ép lên A1, đồng thời tấn công đồi 105 (Huguette 6) và 106 (Huguette 7). Đến 5 giờ sáng ngày 02/4, đồi 106 thất thủ, tuy nhiên thế trận giằng co tại đồi 105 vẫn tiếp tục cho đến ngày 05/4. Điểm yểm trợ Françoise bị bỏ trống do đơn vị lính phụ lực tháo chạy. Dù Tiểu đoàn số 2, Trung đoàn lính dù hạng nhẹ số 1 (2/I R.C.P) được thả dù chi viên vào các đêm từ 01-04/4 cũng không đủ bù đắp những thiệt hại của quân Pháp trong 5 ngày giao tranh ác liệt liên tục. Khí tài và đạn dược của quân đồn trú Pháp đã rơi vào mức cực kỳ thấp: 371 đạn pháo 155 ly, 7.500 đạn pháo 105 ly và chỉ còn 1.500 đạn pháo 120 ly.

Từ ngày 06/4-30/4, VM sử dụng chiến thuật "gặm nhấm" các vị trí phòng ngự của quân Pháp. Cuộc chiến đường hào áp sát tới rất gần các tuyến phòng ngự của quân Pháp, tạo thành gọng kìm siết chặt cả trên mặt đất lẫn trên không. 

Cuộc tấn công tổng lực khiến Điện Biên Phủ thất thủ hoàn toàn từ ngày 01-07/5

Tình hình tập đoàn cứ điểm ĐBP ngày 01/5/1954. Nguồn: Hồ sơ 4C1348, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

Ngày 01/5, điểm yểm trợ số 4 do lính Thái chiếm giữ bị tấn công sau một đợt pháo kích và súng cối dữ dội của VM và đến 2 giờ sáng, VM đã làm chủ vị trí này. Ngày 06/5, các khẩu pháo 105 ly vốn có tác dụng chống đỡ và bảo vệ các điểm yểm trợ của tập đoàn cứ điểm trong những ngày trước đó, đã bị pháo và đạn cối của VM phá hủy nặng nề. Đến nửa đêm, chỉ còn 2 khẩu pháo có thể hoạt động.

Khoảng 14 giờ ngày 07/5, tướng De Castries thông báo cho đại tá Lalande rằng tập đoàn cứ điểm sẽ cố cầm cự đến sáng ngày 08/5 nhằm giúp quân đồn trú ở Hồng Cúm rút về phía nam trong đêm 7 rạng ngày 08/5, trong khuôn khổ cuộc hành binh giải vây mang tên Hải Âu (Albatros). Viên đại tá lệnh phá hủy toàn bộ thiết bị không thể mang theo và gom số quân còn lại rút đi. Khoảng 16 giờ, trung úy De Seguin Pazzis, tham mưu trưởng của tướng De Castries, thông tin cho Lalande rằng quân Pháp đang chiếm giữ khu vực hạt nhân trung tâm của tập đoàn cứ điểm buộc phải dừng kháng cự. Pazzis cho Lalande lựa chọn: hoặc tiếp tục kháng cự trong khả năng cho phép, hoặc rút lui có chuẩn bị trong khuôn khổ của cuộc hành binh Hải Âu, và Lalande đã chọn phương án rút lui.

 Đến 17 giờ ngày 07/5, khi quân VM mở cuộc tấn công vào mạn phía tây và nhanh chóng  tiến sâu vào điểm yểm trợ Junon và Epervier, đánh dấu hồi kết của trận đánh mang tên Điện Biên Phủ. Đến 18 giờ, mọi kháng cự ngưng hẳn tại trung tâm đề kháng trung tâm; tướng De Castries và ban tham mưu bị bắt. 18 giờ 30, Lalande xác nhận toàn bộ tập đoàn cứ điểm đã rơi vào tay tướng Giáp. 

Chỉ với vài trăm quân, Lalande cố thăm dò thế bố trí lực lượng của tướng Giáp ở hai bờ sông Nậm Rốm, nhằm tìm sơ hở để rút quân. Khoảng 20 giờ, một đại đội thuộc Trung đoàn Bộ binh lê dương số 3 (3è R.E.I) tìm cách mở vòng vây ở bờ tây sông Nậm Rốm, một đại đội khác tìm cách vượt sông, chọc thủng vòng vây qua bờ đông, đi theo là tàn quân lính Thái của trung úy Wiemme. Do phía tây bờ sông bị canh giữ vững chắc, Lalande phải tung phần lớn lực lượng theo hướng đại đội phía đông, nhưng mưa lớn đã biến các đường hào, hầm thành bùn nhão, khiến việc tiến quân hết sức khó khăn và chậm chạp. Khoảng 23 giờ, phần lớn số quân đồn trú còn lại không thể rời trung tâm đề kháng. Trong khi đó, khoảng 1 giờ sáng ngày 08/5, bộ đội VM đã chiếm được hầm chỉ huy của đại tá Lalande và 1 giờ 30 phút, lệnh ngừng chiến được đưa ra. Chiến dịch ĐBP kết thúc bằng việc toàn bộ quân đồn trú Pháp của tập đoàn cứ điểm bị tiêu diệt hoặc bắt giữ, trong đó có tướng De Castries.

Đánh giá về bản báo cáo của tướng De Castries, tướng Henri Navarre- nguyên Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương đã chỉ trích tính chủ quan của thuộc cấp khi đề cập đến những nguyên nhân dẫn đến thất bại. Theo Navarre, nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu hụt công sự phòng thủ, quân số và đội ngũ sĩ quan; sự thiếu đồng bộ trong thành phần của Binh đoàn tác chiến Tây Bắc, và do "ở một ví mà khi bị bao vây, chỉ cần một tác động từ bên ngoài cũng đủ làm thay đổi số phận các vũ khí của quân Pháp".

Điện của Ban Tham mưu Lực lượng Không quân Pháp gửi Tham mưu Lữ đoàn Không quân tác chiến Bắc VN về tuyên bố của Thủ tướng Joseph Laniel trước Quốc hội Pháp. Nguồn: Hồ sơ 4C 669, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

16 giờ 30 ngày 07/5/1954 theo giờ Paris, Thủ tướng Pháp Joseph Laniel tuyên bố trước Quốc hội nước này về việc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ hoàn toàn sau 20 giờ giao tranh ác liệt. Nước Pháp đã không tìm thấy lối thoát danh dự cho cuộc chiến Đông Dương và cán cân trên bàn đàm phán ở Hội nghị Genève về việc lập lại hòa bình trên bán đảo này đã có những thay đổi rất lớn.

Ngọc Nhàn