09:15 PM 15/03/2026  | 

Các tài liệu lưu trữ của quân đội Pháp (Lục quân, Không quân, Hải quân) về Điện Biên Phủ hiện được Cục Lịch sử Bộ Quốc phòng quản lý. Khối tài liệu này phản ánh đầy đủ về chiến dịch Điện Biên Phủ mà theo quan điểm của quân đội Pháp được bắt đầu từ khi phát động cuộc hành binh Hải Ly (Castor) tái chiếm lòng chảo cho đến khi giải quyết vấn đề hậu Điện Biên Phủ. Một phần trong số những tài liệu trên thuộc diện hạn chế sử dụng hoặc không được phép công bố theo một số sửa đổi của Luật Di sản Pháp năm 2021.

Cuộc hành binh Hải Ly tái chiếm lòng chảo ngày 20/11/1953[1]

Đối với quân Pháp, cái tên Điện Biên Phủ (ĐBP) bắt đầu từ cuộc hành binh Hải Ly dưới sự chỉ huy của tướng Dechaux - Chỉ huy lực lượng không vận chiến thuật Bắc Việt Nam, bắt đầu từ ngày 20/11/1953. Chỉ trong một ngày, lực lượng không vận Pháp đã thả dù 3 tiểu đoàn (2.650 người) nhằm tái chiếm lòng chảo Điện Biên Phủ qua 2 đợt thả dù quy mô lớn.

Đợt 1: Các máy bay cất cánh lúc 8 giờ 45 và được lệnh thả dù lúc 10 giờ 45, với tổng 1.625 người, trong đó có 725 người thuộc Tiểu đoàn lính dù thuộc địa số 6 (6e BPC); 75 người thuộc Đại đội công binh dù số 17 (17e CPG) của tiểu đoàn trưởng Charlet (đến ngày 08/12/1953); 675 người thuộc Tiểu đoàn số 2, Trung đoàn lính dù hạng nhẹ số 1 (II/1er RCP) của tiểu đoàn trưởng Jean Bréchignac; 150 người thuộc Ban chỉ huy lực lượng không vận.

Đợt 2: Các máy bay cất cánh lúc 13 giờ 30 và được lệnh thả dù lúc 15 giờ, với tổng số 1.025 người, trong đó có 750 người thuộc Tiểu đoàn lính dù thuộc địa số 1 (1er BPC) của đại úy Guy de Bazin de Bezon; 175 người thuộc đơn vị hành quân, Trung đoàn pháo binh dù hạng nhẹ số 35; 75 người thuộc Đại đội dù lê dương súng cối hạng nặng số 1 (1re CEPML); 25 người thuộc Đơn vị phẫu thuật dù số 1 (ACP 1).

Ngày 07/12/1953[2], Binh đoàn tác chiến Tây Bắc (G.O.N.O) chính thức ra đời với quân số 9.700 người. Khi cuộc hành binh Hải Ly kết thúc vào ngày 07/12/1953, 1.760 tấn thiết bị đã được chuyển đến ĐBP (trung bình 100 tấn/ngày).

Sơ đồ tổng kết hoạt động không vận từ ngày 20-23/11/1953 trong khuôn khổ cuộc hành binh Hải Ly. Nguồn: hồ sơ 4 C1219, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

Khối lượng đạn dược của Binh đoàn tác chiến Tây Bắc (GONO)

tính đến ngày 10/02/1954

 

 

 

 

Cỡ nòng khí tài

(tính bằng mm)

 

GONO

Tổng đạn dược của lực lượng Lục quân Pháp ở Bắc Việt Nam (FTNV)

 

Đạn dược

tại chỗ

Quân số hiện có hoặc số khí tài đang  được sử dụng

Tiêu thụ hàng tháng

 (số phát)

Tổng kho chính

(số phát)

Quân số hiện có hoặc khí tài đang sử dụng

 

Đạn 7,5 li (súng trường, súng máy, súng tự động)

 

 

10,5 triệu

 

10.800 quân trong đó có 12 tiểu đoàn bộ binh

 

7,2 triệu

 

25 triệu

 

 

200.000 quân trong đó 99 tiểu đoàn bộ binh

Đạn 9 li

5,3 triệu

6,4 triệu

9,6 triệu

Lựu đạn tấn công

50.000

80.000

90.000

Lựu đạn phòng vệ

50.000

97.000

90.000

Súng cối 60 li

62.000

103 khẩu

76.000

170.000

950 khẩu

Súng cối 81 li

32.000

57 khẩu

39.000

128.000

760 khẩu

Súng cối 120 li

22.000

24 khẩu

10.500

12.000

70 khẩu

Xe tăng M24 (75 li)

9.500

10 xe

10.000

10.000

70 xe

Pháo 105 Hm2

24.000

24 khẩu

79.000

107.000

198 khẩu

Pháo 155 Hml

2.200

4 khẩu

8.000

7.000

24 khẩu

 

Một khẩu 105 li của quân Pháp bị hư hại do trúng đạn pháo của quân ta. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

Quân số của Binh đoàn tác chiến Tây Bắc tính đến ngày 12/3/1954

 

Sĩ quan

Hạ sĩ quan

Lính

Tổng số

Ghi chú

Pháp

180

477

755

1.412

 

Lê dương

97

309

2.563

2.969

 

Bắc Phi

2

167

2.438

2.607

 

Châu Phi

--

8

239

247

 

 

Bản xứ

 

Chính quy

 

--

 

97

 

2.053

 

2.150

 

 

 

Trong đó có 2.575 lính Thái

Phụ lực

--

105

1.323

1.428

Tổng số

279

1.163

9.371

10.813

 

Thông tin tổng hợp các đơn vị lục quân chính của Pháp tại Điện Biên Phủ trước và trong chiến dịch[3]

Lính dù

- Tiểu đoàn số 2, Trung đoàn lính dù hạng nhẹ số 1 (II/1er RCP), tiểu đoàn trưởng là Jean Bréchignac, được thả dù ngày 20/11/1953 trong khuôn khổ cuộc hành binh Hải Ly tái chiếm lòng chảo Điện Biên Phủ.

- Tiểu đoàn lính dù thuộc địa số 1 (1er BPC) của đại úy Guy de Bazin de Bezon, được thả dù đợt 2 từ lúc 15 giờ ngày 20/11/1953 xuống lòng chảo ĐBP trong khuôn khổ cuộc hành binh Hải Ly.

- Tiểu đoàn lính dù thuộc địa số 6 (6e BPC) của tiểu đoàn trưởng Marcel Bigeard, được thả dù trong đợt đầu tiên của cuộc hành binh Hải Ly.

 

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn lính dù thuộc địa số 6 (6e BPC) Marcel Bigeard (ngồi), đang điện đàm về việc thả dù quân của ông ta xuống Điện Biên Phủ. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

- Tiểu đoàn lính dù biệt kích số 8 (8e BPC) của đại úy Pierre Tourret, được thả dù xuống Điện Biên Phủ ngày 21/11/1953 trong khuôn khổ cuộc hành binh Hải Ly.

- Tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 (1er BEP) của tiểu đoàn trưởng Guiraud.

Tiểu đoàn lính dù lê dương số 1 (1er BEP) ở ĐBP. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp
- Tiểu đoàn lính dù lê dương số 2 (2e BEP), tiểu đoàn trưởng Hubert Liesenfelt, được thả dù xuống Điện Biên Phủ trong đêm 9 và ngày 10/4/1954.

- Tiểu đoàn lính dù Việt Nam số 5 (5e BPVN, 5 Bawouan) của đại úy André Botella.

Bộ binh

Lính lê dương:

- Tiểu đoàn 1, Bán lữ đoàn lê dương 13 (I/13e DBLE) của tiểu đoàn trưởng Brinon, được không vận đến ĐBP ngày 09/12/1953.

- Tiểu đoàn 3, Bán lữ đoàn lê dương 13 (III/13e DBLE) của tiểu đoàn Paul Pégot, được không vận đến ĐBP ngày 09/12/1953.

- Tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh lê dương số 2 (I/2e REI) của tiểu đoàn trưởng Clémençon được không vận đến ĐBP ngày 14 và 15/12/1953.

- Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh lê dương số 3 (III/3e REI), tiểu đoàn trưởng Henri Grand d'Esnon.

Lính châu Phi:

- Tiểu đoàn 2, Trung đoàn lính bộ binh Angiêri số 1 (II/1er RTA), đại úy Pierre Jeancenelle được không vận đến ĐBP ngày 14 và 15/12/1953.

- Tiểu đoàn 3, Trung đoàn lính bộ binh Angiêri số 3 (III/3e RTA), đại úy Jean Garandeau được không vận đến ĐBP ngày 10 và 11/12/1953.

- Tiểu đoàn 5, Trung đoàn lính bộ binh Angiêri số 7 (V/7e RTA), tiểu đoàn trưởng Roland de Mecquenem.

- Tiểu đoàn 1, Trung đoàn lính bộ binh Ma-rốc số 4 (I/4e RTM), tiểu đoàn trưởng Jean Nicolas được không vận đến ĐBP ngày 15 và 16/01/1954.

- Tiểu đoàn lính Tabor Ma-rốc số 2 (2 TM), đứng đầu là Borie (đến ngày 04/01/1954).
Lính thuộc địa

- Tiểu đoàn lính Thái số 2 (BT 2), tiểu đoàn trưởng Maurice Chenel, được không vận  đến ĐBP ngày 24 và 25/12/1953.

- Tiểu đoàn lính Thái số 3 (BT 3), tiểu đoàn trưởng Léopold Thimonnier, được không vận đến ĐBP ngày 01-02/12/1953.

Quân đội Việt Nam (thân Pháp)

- Tiểu đoàn Việt Nam số 301, thiếu úy Đèo Văn Dan[4] (tới ngày 23/12/1953).

Lính phụ lực

- Hai đại đội Thái trắng, đại úy Michel Duluat

- Số lính dôi dư của các đại đội phụ trợ quân sự (CSM) thuộc Binh đoàn cơ động ngụy Thái (GMPT) đến từ Lai Châu gồm:

  • Binh đoàn cơ động Thái số 1 (GMT 1) của đại úy Bordier:
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 413 (CSM 413);
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 414 (CSM 414) của trung sĩ Comte;
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 415 (CSM 415);
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 416 (CSM 416) của thượng sĩ Lucien Lobut;
  • Binh đoàn Wième, trung úy Réginald Wième:
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 431 (CSM 431);
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 432 (CSM 432);
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 433(CSM 433) của trung sĩ Mathieu;
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 434 (CSM 434) của thượng sĩ Clément Cante;
    • Đại đội phụ trợ quân sự số 272e (CSM 272) của thượng sĩ trưởng Reymond.
  • Đại đội phụ trợ quân sự số 424 (CSM 424) của thượng sĩ nhất Quinard.
  • Đại đội phụ trợ quân sự số 425 (CSM 425).
  • Đại đội số 248 (CM 248) của thượng sĩ Georges Stoll.

Lính phụ lực được không vận đến ĐBP cùng với các đơn vị lục quân chính quy.

Thiết giáp và kỵ binh

- Đại đội hành quân số 3, Trung đội kỵ binh số 1 (3/1 RCC) của đại úy Yves Hervouët được trang bị xe tăng mang tên Conti và 10 xe tăng M24 Chaffee.

Xe tăng M24 Chaffee của Trung đội kỵ binh số 1 ở Điện Biên Phủ. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp

- Trung đội 1 (sơn màu xanh nước biển), Trung đoàn bộ binh thuộc địa Ma-rốc của thượng sĩ nhất Aristide Carette được trang bị các xe tăng mang tên Bazeille, Douaumont, Mulhouse.

- Trung đội 2 (sơn màu đỏ) của đội trưởng Pierre Guntz được trang bị xe tăng mang tên Smolensk, Posen, Ettlingen.

- Trung đội 3 (sơn màu xanh lá cây) của trung úy Henri Préaud được trang bị xe tăng Auerstadt, Neumach, Ratisbonne.

Pháo binh

- Tiểu đội 2, Trung đội pháo binh thuộc địa số 4 (II/4 RAC), trung đội trưởng Paul Knecht, được trang bị 12 pháo cỡ nòng 105 li M2A1.

- Tiểu đội 3, Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 10 (III/10 RAC), trung đội trưởng Alliou, được trang bị 12 pháo cỡ nòng 105 li M2A1.

- Dàn pháo số 11, Toán số 4, Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 4 (11/IV/4 RAC), đại úy Déal, được trang bị 4 pháo cỡ nòng 155 li M114.

- Phân đội 1, Toán Pháo binh phòng không thuộc địa Viễn Đông (1 GAACEO), trung úy Paul Redon, được trang bị 4 xe kéo pháo 4 súng tự động 12,7 li.

- Tiểu đội hành quân, Trung đoàn pháo binh dù hạng nhẹ số 35, được trang bị pháo 75 li không giật (đến ngày 25/12/1953).

- Tiểu đoàn Pháo binh tự trị Lào (BAAL), đại úy Ladous, được trang bị 8 súng cối 105 li (đến ngày 17/01/1954).

- Đại đội dù súng cối hạng nặng số 1 (1re CEPML) do trung úy Erwan Bergot làm chỉ huy được trang bị 12 súng cối 120 li.

- Đại đội lê dương súng cối hỗn hợp số 1, Trung đoàn bộ binh lê dương số 3 (1re CMMLE) do trung úy René Colcy làm chỉ huy, được trang bị 8 súng cối 120 li.

- Đại đội lê dương súng cối hỗn hợp số 2, Trung đoàn bộ binh lê dương số 5 (2e CMMLE) do trung úy Fetter làm chỉ huy được trang bị 8 súng cối 120 li.

Công binh

- Tiểu đoàn công binh số 31 (31e BG) (2 đại đội) của tiểu đoàn trưởng André Sudrat được không vận đến ĐBP ngày 21/12/1953.

- Đại đội công binh dù số 17 (17e CPG) của tiểu đoàn trưởng Charlet (ở ĐBP đến ngày 08/12/1953).

Thông tin liên lạc

- Đại đội số 2, Tiểu đoàn thông tin liên lạc số 822 (2/822 BT).

- Đại đội số 2, Tiểu đoàn thông tin liên lạc số 823 (2/823 BT).

- Đại đội lính dù thông tin liên lạc số 342 (342 CPT)

Không ảnh tập đoàn cứ điểm ĐBP. Nguồn: Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

Y tế

Bác sĩ trưởng: đại úy Le Damany.

- Đơn vị phẫu thuật di động số 29 (ACM 29), thiếu tá Paul Grauwin.

- Đơn vị phẫu thuật di động số 44 (ACM 44), trung úy Jacques Gindrey.

- Đơn vị phẫu thuật dù số 3 (ACP 3) do trung úy Louis Résillot làm chỉ huy.

- Đơn vị phẫu thuật dù số 5 (ACP 5) do đại úy Ernest Hantz làm chỉ huy.

- Đơn vị phẫu thuật dù số 6 (ACP 6) do trung úy Jean Vidal làm chỉ huy.

Các phòng ban

- Đại đội chỉ huy số 71.

- Đại đội chỉ huy và phục vụ số 6 (6e CCS).

- Đại đội chỉ huy và phục vụ số 9 (9e CCS).

- Đại đội vận tải số thuộc Đại bản doanh (3e CTQG).

- Đại đội đạn dược số 3 (3e CM) (biệt phái) do trung úy Léonard làm chỉ huy.

- Đại đội tiếp tế số 730 (730e CR) (bộ phận xăng dầu) (kho 81) (biệt phái).

- Đại đội giao thông đường bộ số 712 (712e CCR).

- Đại đội sửa chữa thiết bị tự chủ (CRAM) do trung úy Jourdonneau làm chỉ huy.

- Phân đội số 2, đại đội lê dương số 5 (2/5 CMRLE/5 REI) do trung úy Bugeat làm chỉ huy.

- Quân đoàn hành quân số 3, Lực lượng hiến binh cơ động Vệ binh Cộng hòa (3 LM/GRGM) (biệt phái).

- Đơn vị khai thác tác chiến số 1 (GEO 1) (bộ phận quân nhu), trung úy Antoine Hurté.

- Hộp thư quân sự số 403 (403 BPM), trung úy Pennamec'h.

 

 

[1]. Sách "Điện Biên Phủ, 13/3-07/5/1954", Ivan Cadeau, Nhà xuất bản Tallandier, 2016, trang 193-195.

[2]. Báo cáo của tướng Cogny về ĐIện Biên Phủ đề ngày 15/5/1954, hộp số 4, hồ sơ 1 K342 tài liệu lưu trữ cá nhân của tướng Henri Navarre, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

[3]. Hồ sơ 10 H 1157, Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp và danh sách các đơn vị lục quân chính có mặt tại Điện Biên Phủ từ cuộc hành binh Hải Ly đến khi tập đoàn cứ điểm thất thủ hoàn toàn ngày 07/5/1954 do nhà sử học quân sự Ivan Cadeau cung cấp cho tác giả trong quá trình sưu tầm tài liệu về chiến dịch ĐBP tại Lưu trữ Bộ Quốc phòng Pháp.

[4]. Không xác minh được chính xác tên nhân vật do bản gốc tiếng Pháp không có dấu - TG.

Ngọc Nhàn