07:17 PM 11/06/2021  | 

Quyển lịch có một ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống con người. Nó là một “món quà” không thể thiếu của mỗi gia đình khi khởi đầu năm mới. Nét văn hóa truyền thống đó còn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay. Cùng ngược dòng lịch sử để tìm hiểu các bậc tiền nhân đã dành cho cuốn lịch một vị trí như thế nào và gửi gắm những ý nghĩa sâu xa ra sao qua các tài liệu gốc thuộc khối Châu bản triều Nguyễn hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.

Dưới triều Nguyễn, cứ vào dịp mùng 1 tháng 12 âm lịch hàng năm, triều đình lại tổ chức lễ ban sóc (lễ ban lịch). “Vào ngày này, Khâm thiên giám đặt triều nghi và dâng lịch của năm sau đã được soạn xong. Sau đó, Nội các tuyên chỉ của nhà vua ban lịch cho bách quan và các địa phương. Các quan làm lễ Tạ ơn rồi về nhận lịch tại viện Đãi lậu. Các địa phương thì đến nhận lịch tại hành cung của tỉnh”[1]

Biên soạn và in ấn lịch

Công việc biên soạn và in ấn lịch được giao cho Khâm thiên giám. Đây là “một cơ quan quan sát và chiêm nghiệm âm dương bói toán, các hiện tượng thiên văn, thời tiết, làm lịch, coi ngày, báo giờ để định mùa vụ cho dân, giữ đồng hồ báo canh ở điện Cần Chánh và giữ trọng trách tư vấn triều đình về các vấn đề địa lý, phong thủy”[2].

Việc biên soạn lịch có nhiều nguyên tắc, trong đó bìa lịch được quy định dùng giấy màu vàng Tây phương. Tuy nhiên khi có sự thay đổi, Khâm thiên giám phải trình lên nhà vua xem xét. Bản tấu của Khâm thiên giám ngày 29 tháng 11 năm Thành Thái 18 (1906): “Phụng xét việc làm lịch Hiệp kỷ năm Đinh Mùi sang năm đã hoàn thành. Trong đó có giấy bìa lịch dâng vua làm theo mẫu mới, nguyên dùng giấy vàng Tây phương. Đã sức tìm mua giấy đó nhưng không mua được nên đã gửi tấu xin dùng loại giấy nến trắng Tây phương để đóng bìa….”[3]. Những sự kiện quan trọng đều được ghi chú cẩn thận ở từng trang “Khâm Thiên giám tâu: (…) Chiều ngày mồng 1 tháng này nhận được quyển Ngự lịch và một bản nhỏ do Thái giám Nguyễn Đề giao cho và trực tiếp được sắc: Lịch đó ở trong nhan đề truyền bỏ bớt 3 chữ “Thánh thọ tiết”, ngày 12 tháng 11 ghi chú là ngày giỗ. Xin chờ chỉ tuân theo sửa lại các trang đó”[4].

Công tác in ấn lịch tiến hành từ trong năm và thực hiện hết sức khẩn trương. Các viên lại dịch tham gia công việc này được phân ban và trả lương đầy đủ. Năm Đồng Khánh 2 (1887), ngày mùng 9 tháng 8, Bộ Hộ tâu: “Nay nhận được tờ tư của viên kiêm quản Khâm thiên giám là Tôn Thất Phiên trình rằng: Nay đang làm Hiệp kỷ lịch của năm tới. Các lại dịch làm việc gồm 10 tên được chia làm 2 ban, mỗi ban 5 tên, làm việc không kịp, nghĩ nên điều thêm ban hạ, hợp với đương ban để đủ người in ấn và bắt đầu từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 11 thường xuyên chi lương để in ấn cho kịp lễ ban sóc…”[5]

Cung tiến ngự lịch

Trước khi ban lịch cho các quan ở Kinh thành và địa phương thì việc cung tiến Ngự lịch vào Hoàng cung là công việc đầu tiên phải làm. Đây là công việc rất quan trọng, do đích thân quan quản lý Khâm thiên giám đảm nhiệm. Năm Tự Đức 36 (1883), bản tấu của bộ Lễ ghi rằng: “Ngày 25 tháng này có lễ ban sóc, có cung tiến lịch rồng. Theo lệ do quan quản lý Khâm thiên giám quỳ tiến. Nay xét quan quản lý Khâm thiên giám là Nguyễn Văn Tường đúng lúc có tang lễ. Xin chọn phái đại thần phủ Phụ chính điện tiền tướng quân, Thự hiệp biện đại học sĩ lãnh thượng thư bộ Lại Tôn Thất Thuyết sung thay quỳ tiến 1 lần”[6]. Việc cung tiến Ngự lịch vào Đại nội và Tôn cung đều được giao đích danh đến từng viên quan “Vâng xét, hàng năm vào ngày mùng 1 tháng 12 có đem Ngự lịch cung tiến vào Đại nội và ba Tôn cung, theo lệ do đường quan ở bộ thần, mỗi nơi một viên cung tiến, Duyệt thị đường có 1 viên thuộc bộ cung tiến. Nay ngày mùng 1 tháng tới chính là kỳ cung tiến lịch, xin đến ngày đó quan Trương Như Cương cung tiến vào Đại nội, quan Phạm Ngọc Thọ cung tiến vào cung Gia Thọ, quan Phạm Hữu Mô cung tiến vào cung Từ Nghi, Duyệt thị đường xin phái Lang trung thuộc bộ là Trần Văn Đạt vâng theo thi hành… Ngày 30 tháng 11 năm Thành Thái 10 (1898)”[7]

Nghi lễ ban sóc

Triều đình tổ chức lễ ban sóc vào cuối năm âm lịch, dưới sự điều hành của 2 viên quan ở bộ Lễ và Khâm thiên giám. Lễ ban sóc trước đây được tổ chức ở điện Thái Hòa, đến triều vua Minh Mệnh thì “Lễ ban sóc có khác với ba tiết lớn. Nay đổi định: từ nay về sau làm lễ ban sóc ở trước cửa Ngọ Môn”[8] bởi nhà vua quan niệm rằng ban lịch năm mới không chỉ dành riêng cho triều đình sử dụng mà còn đến muôn dân.

Khi tất cả các công việc đã hoàn tất thì việc chọn ngày tốt để cử hành nghi lễ là khâu rất quan trọng. Vào năm Tự Đức 20 (1867) nhà vua ra quy định miễn thiết triều vào các ngày đại lễ “…Lại từ nay về sau vào các dịp lễ hưởng mùa hạ, mùa thu, mùa đông và lễ ban sóc ngày mùng 1 tháng 12, đều xin miễn thiết triều theo thường lệ”[9]. Lễ ban sóc được tổ chức tại lầu Ngọ Môn, theo lệ thiết nghi đại triều. Bản tấu của bộ Lễ ngày 24 tháng 10 năm Thiệu Trị 2 (1842): “Ngày mùng 1 tháng 12 năm nay là ngày lễ ban sóc. Kính bàn lễ Ân tiến ngày mồng 1 tháng 12 xin chuyển sang làm lễ vào ngày mùng 2, còn ngày mùng 1 vẫn làm lễ ban sóc ở Ngọ Môn cho hợp với điển lệ. Các khoản nghi thức chung tra năm Minh Mệnh 21 thấy đã bàn và được phê chuẩn sửa đổi. Năm ngoái bộ thần lại tham chiếu, bàn định tâu xin cho thi hành. Nay xin tuân theo thực hiện. Châu phê: Chuẩn y lời bàn cho thi hành”[10]. Thậm chí, đã ấn định tổ chức lễ ban sóc nhưng khi có việc cần cân nhắc đổi ngày, nhà vua vẫn thấy lòng không yên “…Nay nhân cát lễ ban sóc mà đổi ngày, lòng Trẫm thấy không yên, nên đã hỏi các đại thần là Trương Đăng Quế, Vũ Xuân Cẩn. Căn cứ lời tâu xin nên theo như bộ đó đã bàn là thỏa đáng…”[11]

Bản tấu của bộ Lễ ngày mùng 8 tháng 11 năm Thành Thái 6 (1894) về việc tổ chức lễ ban sóc

Lễ ban sóc được tổ chức long trọng và tuân theo nghi thức nghiêm ngặt, quy định về trang phục từ Hoàng thượng đến văn võ bá quan “…Lễ ban sóc ngày mồng 1 tháng 12 năm nay, xin tuân theo lệ thiết nghi đại triều tại lầu Ngọ Môn. Đến ngày lễ, các Hoàng thân, vương công, bá quan văn võ đầy đủ triều phục, phẩm phục làm lễ thụ sóc. Mọi nghi lễ xin tuân theo lệ trước đây thực hiện”[12]. Trong quá trình hành lễ, chỉ phạm một lỗi nhỏ cũng bị khiển trách hoặc xử phạt. Từ việc các viên quan thuộc ty Hộ vệ treo cờ chậm trễ “Bộ thần xét thấy, cột cờ theo lệ hàng ngày đều phải treo cờ vàng, huống hồ nay lại là ngày lễ ban sóc, là việc long trọng mà các viên ở ty ấy không cố gắng hết sức treo cờ lại đổ lỗi tại mưa gió, như thế là không được. Bọn Tôn Thất Tường xin chiếu luật trái lệnh, đánh mỗi người 50 roi, chiếu lệ cho nộp tiền chuộc. Quyền Suất đội Tôn Thất Diệm xin giảm 1 bậc, đánh 40 roi. Nguyễn Hữu Thứ đã nhận lỗi xin nên tha thứ.”[13] cho đến việc truyền chỉ không đúng nghi thức “Thần Trần Ngọc Dao kính tâu: Tháng này có thiết triều nghi ở trước lầu Ngọ Môn làm lễ ban sóc. Thần được tuyên chỉ, chiếu theo lệ trước nay chờ bách quan đều quỳ sau mới tuyên đọc. Nhưng khi bách quan chưa quỳ, thần đã tuyên 2 chữ “Quý Mão”. Sau đó nghe lễ xướng “quỳ” rồi mới tuyên đọc. Việc có liên quan đến điển lễ mà thần lại có việc trái nghi lễ như vậy, thật là không hợp. Xin giao thần cho bộ xử. Châu phê: Trần Ngọc Dao, truyền chỉ nhắc nhở. Ngày 1 tháng 12 năm Thiệu Trị 2”[14].

Mọi công việc đều được chuẩn bị kĩ càng, tỉ mỉ nhằm hướng tới một buổi lễ ban lịch đầu năm mới trang nghiêm, đúng quy định. Trân trọng những cuốn lịch chính là chúng ta trân trọng thời gian.

 

[1] Điều ít biết về Tết trong cung đình nhà Nguyễn, VTC news, Nguyễn Vương

[2] Từ điển quan chức Việt Nam, Đỗ Văn Ninh

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 66, tờ 142

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 66, tờ 150

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Đồng Khánh tập 11, tờ 72

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 352, tờ 22

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 48, tờ 199

[8] Khâm định Đại nam hội điển sự lệ

[9] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức tập 163, tờ 290

[10] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 22, tờ 182

11 Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 10, tờ 129

[12] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 21, tờ 22

[13] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái tập 7, tờ 16

[14] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị tập 20, tờ 7

Đào Hải Yến